Skip Ribbon Commands
Skip to main content
 
 

1. Điều kiện tự nhiên


a. Vị trí địa lý: Đắk Glong nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Đắk Nông, có tổng diện tích tự nhiên là 144.875,46 ha, giáp với các huyện Lăk - tỉnh Đăk Lăk ở phía Đông Bắc, Đam Rông ở phía Đông, Lâm Hà ở phía Đông Nam, Di Linh và Bảo Lâm ở phía Nam, Đắk R'lấp và Huyện Gia Nghĩa ở phía Tây Nam, Đắk Song ở phía Tây và Krông Nô ở phía Bắc.

 

b. Địa hình: huyện Đắk Glong có địa hình đa dang và phong phú, có sự xem kẽ là thung lũng; độ cao trung bình trên 800m. Đây là khu vực có đất bazan là chủ yếu, rất thích hợp với phát triển cây công nghiệp lâu năm như cà phê, cao su, điều, tiêu và chăn nuôi gia súc, gia cầm.


c. Khí hậu: Đắk Glong vừa mang tính chất khí hậu cao nguyên nhiệt đới ẩm, vừa chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam khô nóng. Khí hậu có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11, tập trung 90% lượng mưa hàng năm. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa không đáng kể.


Nhiệt độ trung bình năm khoảng từ 21 – 220C, nhiệt độ cao nhất 330C, tháng nóng nhất là tháng 4, nhiệt độ thấp nhât 140C, tháng lạnh nhất vào tháng 12. Lượng mưa trung bình năm khoảng 2200- 2400 mm, lượng mưa cao nhất 3000 mm. Tháng mưa nhiều nhất vào tháng 8, tháng 9; lượng mưa ít nhất vào tháng 1, tháng 2. Độ ẩm không khí trung bình 84%. Độ bốc hơi mùa khô 14,6 – 15/mm/ngày, mùa mưa 1,5 – 1,7/mm/ngày.


2. Tài nguyên thiên nhiên


Tài nguyên thiên nhiên lớn nhất của huyện là rừng tự nhiên với diện tích 125.793,2 ha, độ che phủ 65%. Diên tích đất nông nghiệp 16.673 ha, chiếm 11,56%, hệ thống sông suối đa dạng, có sông Đồng Nai chảy qua ở phía nam và nhiều suối lớn. Đường giao thông thuận lợi, có Quốc lộ 28 đi Lâm Đồng, Bình Thuận và Tỉnh lộ 4. Nguồn nước mặt do mưa cung cấp tương đối dồi dào, thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn toàn huyện.


Nguồn nước ngầm phân bố ở hầu khắp trên địa bàn huyện, có trữ lượng lớn ở độ sâu 60 – 90m. Đây là nguồn cung cấp nước bổ sung cho sản xuất, sinh hoạt và mùa khô, được sử dụng phổ biến cho sinh hoạt, làm kinh tế vườn, kinh tế trang trại. Tuy nhiên, một số nơi trong vùng nguồn nước ngầm hạn chế. Nước ngầm được khai thác chủ yếu thông qua giếng khoan, giếng đào, nhưng do nguồn nước nằm ở tầng sâu nên muốn khai thác cần có đầu tư lớn và phải có nguồn năng lượng.


Tài nguyên khoáng sản: dồi dào, theo số liệu điều tra sơ bộ cho thấy trên địa bàn huyện có một số loại khoáng sản là: mỏ vàng, volfram, thiếc, antimon, Bauxit, sét cao lanh làm gốm sứ cao cấp. Trữ lượng quặng Bauxit được dự đoán 4,5 tỉ tấn. trên bề mặt của mỏ quặng có lớp đất bazan tốt, phù hợp cho trồng rừng hoặc cây công nghiệp dài ngày. Khó khăn trong việc khai thác hiện nay là chưa có đường giao thông, thiếu năng lượng, nguồn nước để rửa quặng và vốn đầu tư.


Tài nguyên du lịch: Trên địa bàn huyện đã có và trong tương lai có nhiều thắng cảnh thiên nhiên đẹp như các khu rừng nguyên sinh Tà Đùng (28.000 ha), thác gấu xã Quảng Sơn, lòng hồ thủy điện Đồng Nai 3, 4; thủy điện Buôn Tusa, Đắk Nten, các hồ chứa nước tự nhiên và nhân tạo…rất thích hợp cho du lịch sinh thái và dã ngoại. các thôn, bon, đồng bào dân tộc ít ngời với những nét sinh hoạt văn hóa truyền thống độc đáo như hội cồng chiêng, uống rượu cần, lễ hội đâm trâu,… là những tiềm năng cho phát triển du lịch. Đặc biệt, là dân tộc M’ Nông có truyền thống văn hóa độc đáo, giàu bản sắc dân tộc, có các sử thi, các lễ hội, đây là yếu tố có thể khai thác phát triển du lịch. Những tiềm năng trên là điều kiện để hình thành các cụm du lịch, tour du lịch của huyện nếu được gắn kết với các tuyến du lịch Bình thuận, Lâm Đồng, Tp. Hồ chí minh sẽ tạo nên hành trình du lịch hấp dẫn đối với du khách.


Tiềm năng thủy điện: là huyện giáp ranh với tỉnh Lâm Đồng được ngăn cách bởi thượng nguồn của sông Đồng nai, do địa hình nhiều núi cao, dốc thích hợp cho việc phát triển thủy điện. Ngoài ra, trên địa bàn còn rất nhiều những con suối nhỏ thích hợp cho việc xây dựng các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ. Hiện trên địa bàn huyện có 4 nhà máy thủy điện với công suất 720 MW/h (Đồng Nai 3,4, Buôn Tua Srah, Đắk Nten).


3. Lịch sử, truyền thống, văn hóa, di tích, thắng cảnh


a. Lịch sử vùng đất


Trong quá trình hình thành và phát triển do các yêu cầu của lịch sử đấu tranh cách mạng nên mỗi một đơn vị hành chính, thường có sự thay đổi về địa giới cũng như về địa danh. Huyện Đăk Glong cũng không nằm ngoài quy luật đó.


Cuối thế kỷ XIX đến tháng 1 năm 1959, Đăk Glong là một bộ phận của huyện Di Linh thuộc tỉnh Đồng Nai Thượng.


Từ sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công đến cuối năm 1960, địa bàn Đăk Glong thuộc quyền quản lý của tỉnh Đồng Nai Thượng rồi sau là tỉnh Lâm Đồng.


Từ ngày 23-1-1959 đến ngày 22-3-1975, địa bàn Đăk Glong là một phần của huyện Khiêm Đức, thuộc tỉnh Quảng Đức.


Từ đầu năm 1976 đến tháng tháng 6 năm 2005 Đăk Glong là một phần của huyện Đăk Nông.


Ngày 26-7-2005, Chính phủ ký Nghị định số 82/2005/NĐ-CP chia tách huyện Đăk Nông thành huyện Đăk Glong và Huyện Gia Nghĩa.


b. Lịch sử phát triển


Thời kỳ trước Cách mạng Tháng tám năm 1945 


Với truyền thống yêu nước và tinh thần đấu tranh bất khuất, đồng bào các dân tộc trên địa bàn Đăk Glong cũng như tỉnh Đăk Nông và Tây Nguyên, dưới sự lãnh đạo của các tù trưởng, tộc trưởng, đã liên tiếp vùng lên chống quân xâm lược, trong đó nổi bật lên là cuộc đấu tranh của Nơ Trang Lơng lãnh đạo trong những năm (1912-1935) đã có ý nghĩa to lớn về nhiều mặt của đồng bào các dân tộc huyện Đăk Glong.  


Trong giai đoạn này còn nhiều cuộc nổi dậy của đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện Đăk Glong cũng như tỉnh Đăk Nông nhưng đây thực sự chỉ là những cuộc tập dượt cho giai đoạn đấu tranh cách mạng tiếp theo, đó là giai đoạn đấu tranh do Đảng cộng sản lãnh đạo.  


- Giai đoạn lịch sử 1945-1954


Tháng 8-1945, đồng bào cả nước theo lệnh của Đảng và Bác Hồ, nhất tề đứng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Huyện Đăk Glong do những hoàn cảnh khó khăn riêng, nên lúc đó mới biết đến cách mạng. Vì thế sự tham gia của đồng bào vào sự kiện trọng đại trên còn hạn chế.  


Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, huyện Đăk Glong là một trong những nơi nổ tiếng súng kháng chiến chống Pháp đầu tiên ở Nam Tây Nguyên. Vào thời kỳ cuối của cuộc kháng chiến, huyện Đăk Glong đã có những cơ sở cách mạng, những đảng viên đầu tiên của mình, góp phần cùng cả nước đánh thắng thực dân Pháp xâm lược.  


- Giai đoạn lịch sử 1954-1975


Tháng 5-1975, trong không khí cả nước mừng ngày đại thắng, tỉnh Quảng Đức lại được tái lập, huyện Khiêm Đức lại được chuyển từ Lâm Đồng về Quảng Đức. Một giai đoạn cách mạng mới đang mở ra cho Đảng bộ và đồng bào các dân tộc huyện Khiêm đức: giai đoạn xây dựng và phát triển không ngừng đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân trong giai đoạn mới. 

 

- Giai đoạn lịch sử sau 1975 đến tháng 7-2005


Miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, từ chiến tranh chuyển sang hoà bình xây dựng đất nước, Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân các dân tộc trên địa bàn huyện tiếp tục đối mặt với những thử thách mới đầy khó khăn, thử thách. Đồi hỏi mỗi cán bộ phải không ngừng nỗ lực phấn đau để nâng cao bản lĩnh chính trị, nâng cao trình độ năng lực lãnh đạo mọi mặt, nhằm đưa đồng bào các dân tộc trên địa bàn thoát khỏi cảnh đói nghèo lạc hậu.  


Trong giai đoạn 1975-1986, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện nhà phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp và cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội, lãnh đạo nhân dân khắc phục hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh, từng bước xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho sự ổn định và phát triển kinh tế, xã hội, ổn định đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của nhân dân.


Từ cuối năm 1986, Đảng bộ đề ra nhiều chủ trương, giải pháp tích cực, thực hiện đường lối đổi mới; xây dựng, phát triển và hoàn thiện cơ chế quản lý mới, cùng các địa phương trong cả nước nhanh chóng thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội, từng bước hình thành nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng với tỉnh nhà tiến bước trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá.


Vượt qua những khó khăn, thách thức, Đảng, chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện nhà đã đưa kinh tế - xã hội dần vào ổn định và tăng trưởng, đời sống nhân dân được cải thiện về nhiều mặt. Cơ cấu kinh tế chuyển biến tiến bộ quan trọng, xác định đúng và ra sức khai thác tiềm năng, lợi thế. Nông lâm nghiệp phát triển khá, giữ vai trò chủ yếu thúc đẩy phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Công nghiệp và dịch vụ có bước phát triển đáng kể. Kết cấu hạ tầng từng bước được xây dựng, phục vụ cho sản xuất, đời sống, nhất là các công trình thuỷ lợi, điện, đường, trường học, trạm xá…bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc. các lĩnh vực giáo dục, , y tế, văn hoá xã hội đều có bước chuyển biến tiến bộ rõ nét: đạt chuẩn quốc gia về xoá mù chữ - phổ cập tiểu học và đang thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở; sức khoẻ của nhân dân được chăm sóc tốt hơn, hộ đói nghèo giảm…an ninh - quốc phòng được giữ vững, hệ thống chính trị được củng cố, giữ vững khối đại đoàn kết giữa các dân tộc trong huyện.  


- Giai đoạn từ tháng 7-2005 đến nay


Trên cơ sở phát triển và xuất phát từ yêu cầu khách quan, huyện Đăk Glong đượcchính thức thành lập vào tháng 7 năm 2005. Việc thành lập huyện là một mốc quan trọng cho sự phát triển toàn diện về mọi mặt cũng là những cơ hội và thách thức mới cho huyện.


Trên lĩnh vực kinh tế, Đảng bộ, chính quyền huyện Đăk Glong đã chủ động đề ra những chủ trương, tổ chức chỉ đạo các ngành, các cấp và động viên nhân dân các dân tộc trong huyện đoàn kết, từng bước khắc phục khó khăn, phát huy nội lực và tiềm năng của các thành phần kinh tế, bảo đảm cho các hoạt động kinh tế được giữ vững ổn định và có bước phát triển. Để tiến tới nâng dần tỷ trọng các ngành kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá.  


Về văn hoá - xã hội, tiếp tục thực hiện tốt sự chỉ đạo của cấp trên về đổi mới sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, thực hiện các chính sách xã hội, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, chính sách dân tộc, tôn giáo, chính sách đối với người có công…nên cơ sở vật chất được tăng cường, chất lượng hoạt động được nâng cao hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nhân dân. Hoạt động văn hoá, thông tin, thể thao có sự cố gắng lớn. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện, kể cả trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, vùng sâu, vùng xa: Công tác giải quyết việc làm cho người lao động được quan tâm. Công tác xoá đói giảm nghèo được triển khai tích cực với nhiều hình thức phong phú và hiệu quả, cơ bản giải quyết xong đất sản xuất, đất ở, nhà ở cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ theo các chương trình của Chính phủ.  


Đi đôi với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, trước tình hình an ninh chính trị còn nhiều phức tạp, Đảng bộ, chính quyền các cấp huyện Đăk Glong đã xác định: bảo đảm quốc phòng an ninh là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên. Chủ động nắm tình hình, chỉ đạo tích cực công tác phát động quần chúng, đấu tranh ngăn chặn kịp thời và có hiệu quả âm mưu biểu tình, bạo loạn chính trị và vượt biên trái phép; bảo đảm ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đồng thời thực hiện tốt chủ trương của Tỉnh uỷ đề ra là kết nghĩa giữa các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể… với các buôn, bon đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ trên địa bàn huyện; từ đó tạo ra được thế và lực mới cho cơ sở và thôn, bon; tăng cường thêm tình cảm, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức đối với việc góp phần xây dựng buôn, bon đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ vững mạnh toàn diện là một thành công về mặt chính trị.


Có được những thành tựu hôm nay mà Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc Đăk Glong đạt được đó là bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh và các cơ quan Trung ương đã tạo điều kiện giúp đỡ về nhiều mặt. Bên cạnh đó cũng phải kể đến sự nỗ lực cố gắng vượt bậc của Đảng bộ, Chính quyền các cấp tại địa phương, của đội ngũ cán bộ, đảng viên và từ sức mạnh của các dân tộc trên địa bàn huyện nhà.


c. Truyền thống văn hóa


Cư dân bản địa trên địa bàn huyện chủ yếu là người M’Nông và một số đồng bào người Mạ. Ngoài ra còn có một số dân tộc thiểu số các tỉnh phía Bắc chuyển vào làm ăn sinh sống ở Đăk Glong. Cũng như nhiều dân tộc anh em khác ở Tây Nguyên, dân tộc M’Nông trong quá trình lao động và đấu tranh để tồn tại và phát triển, đã sản sinh ra một nền văn hoá khá phong phú và giàu bản sắc văn hoá dân tộc; có thể kể đến một số lễ hội như sau: Lễ đâm trâu; lễ cúng bến nước…..