Skip Ribbon Commands
Skip to main content
 

*Giới thiệu chung về Đăk Mil


1. Về địa lý, đơn vị hành chính và thành phần các dân tộc

Đăk Mil là huyện nằm về phía Đông Bắc của tỉnh Đăk Nông, cách Thị xã Gia Nghĩa 60 km theo đường quốc lộ 14. Phía bắc giáp huyện Cư Jút; Đông giáp huyện Krông Nô; phía Nam giáp huyện Đăk Song; Tây giáp tỉnh Muldulkiri - Vương quốc Campuchia. Có 10 đơn vị hành chính cấp xã bao gồm: Đắk Sắk, Đức Minh, Long Sơn, Đắk Lao, Đắk R'La, Đức Mạnh, Đắk N'Drót, Đắk Gằn, Thuận An và thị trấn Đắk Mil. Diện tích tự nhiên là: 68.299ha  chủ yếu là đất đỏ BaZan, thích hợp với cây cà phê, hồ tiêu và nhiều loại cây nông, công nghiệp khác, trong đó đất lâm nghiệp 25.174 ha, đất nông nghiệp 36.872 ha.

Thành phần dân tộc của huyện Đăk Mil khá đa dạng: Có tới 19 dân tộc anh em, dân tộc kinh có 14.314 hộ/64.474 nhân khẩu chiếm 80,08% dân số toàn huyện. Dân tộc thiểu số tại chỗ có 1.346 hộ/7.135 khẩu chiếm 8,6% chủ yếu là dân tộc M’Nông, dân tộc Ê đê (4 hộ/31 khẩu); Mạ (1hộ/khẩu), dân tộc thiểu số khác 2.037 hộ/9.400 khẩu là đồng bào dân tộc thiểu số có nguồn gốc từ các tỉnh miền núi phía bắc như: Tày, Nùng, Dao, H’ Mông…

2.  Về  kinh tế

Trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay, kinh tế của huyện phát triển với nhịp độ tăng trưởng khá. Hệ thống cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường, trạm y tế được quan tâm đầu tư. Đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận quần chúng nhân dân được cải thiện đáng kể. Tình hình an ninh chính trị về cơ bản ổn định, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

Đăk Mil là huyện có vị trí quan trọng về kinh tế, văn hóa, chính trị, quốc phòng an ninh của tỉnh Đăk Nông, nhân dân trong huyện giàu truyền thống yêu nước, có tinh thần đoàn kết. Nhân dân các dân tộc trên địa bàn huyện quyết tâm phấn đấu xây dựng huyện ngày càng giàu về kinh tế, tiến bộ về xã hội, mạnh về chính trị, vững về an ninh - quốc phòng, góp phần xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.

3. Về giao thông

Đăk Mil là huyện biên giới, có  đường biên giới dài 46 km tiếp giáp với huyện Peachreda, tỉnh Muldunkiri - Vương quốc Cam Pu Chia, có cửa khẩu Đăk Per thông thương với Campuchia; nằm trên Quốc lộ 14 chạy dọc các tỉnh vùng Tây Nguyên, cách thành phố Buôn Ma Thuột (tỉnh Đăk Lăk) 60 km, về phía Tây Nam cách thành phố Hồ Chí Minh 296 km. Ngoài ra Đăk Mil còn có quốc lộ 14C là tuyến giao thông quan trọng trong khu vực Tây Nguyên và hai tuyến đường tỉnh lộ ĐT 683, ĐT 682; thông qua các tuyến đường này, Đăk Mil có thể kết nối với các huyện Cư Jut, Đăk Song, Tuy Đức, Krông Nô trong tỉnh Đăk Nông. Hệ thống giao thông huyện Đăk Mil bao gồm: 02 tuyến Quốc lộ 14 và 14C, 2 tuyến đường tỉnh ĐT 682 và ĐT 683, 8 tuyến đường huyện; 33 tuyến đường xã; 35 tuyến đường nội thị và 101 tuyến đường thôn, bon. Mật độ đường: 0,82 km/km2 và 6,92 km/103 dân (nếu không tính đường thôn, bon): 0,52 km/km2 và 4,4 km/103 dân).

4.  Về lịch sử - Văn hóa

Đăk Mil là huyện được hình thành khá sớm của tỉnh Đăk Lăk từ năm 1936, với diện tích hơn 200.000ha, bao gồm một phần của các huyện Cư Jút, huyện Krông Nô và huyện Đăk Song hiện nay. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ nhân dân các dân tộc anh em trên địa bàn huyện đã kiên cường cùng với các tổ chức mặt trận trên cả nước, góp phần vào công cuộc giải phóng hoàn toàn đất nước. Tại đây bọn thực dân đã xây dựng nhà ngục nhằm đày ải và tra tấn các chiến sĩ cách mạng, Nhà ngục Đăk Mil đã từng là nơi giam giữ và cũng là nơi đấu tranh của những chiến sỹ cách mạng như: Nguyễn Chí Thanh, Trần Hữu Dực, Nguyễn Tạo, Lê Nam Thắng, Trần Văn Quế, Trần Sâm, Trần Văn Quang… Tháng 5 năm 1965, Mỹ - Ngụy thiết lập trại lực lượng đặc biệt tại quận Đức Lập (Camp Duc Lap) cách trung tâm quận Đức Lập (tỉnh Quảng Đức cũ) khoảng 10km về hướng đông, nhằm tăng cường lực lượng và gia tăng các hoạt động quân sự hòng khống chế một bộ phận quan trọng địa bàn Nam Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và vùng biên giới Campuchia; ngăn chặn chi viện của miền Bắc vào chiến trường miền Nam qua đường hành lang Bắc – Nam trên địa bàn tỉnh Quảng Đức.

Để đối phó với âm mưu, thủ đoạn của địch, năm 1968 Bộ chính trị, Bộ Tư lệnh chiến trường Tây Nguyên xác định cần phải tiêu diệt địch tại chi khu quận lỵ Đức Lập, mà nồng cốt là cứ điểm quân sự Đăk Săk - một trong số sào huyện trọng yếu của địch trên mặt trận Tây Nguyên, làm bàn đạp tấn công địch ở miền Nam. Lúc này, cứ điểm quân sự Đăk Săk là cửa ngõ phái tây nam của Nam Tây Nguyên, nằm trên trục lộ 14 đi Buôn Ma Thuột, gia Lai, Kon Tum… Soá sổ căn cứ Đăk Săk - Đức Lập thì địa bàn Tây Nguyên gần như bị cô lập và thuận lợi cho chiến trường cách mạng miền Nam.

Thực hiện chủ trương đó, từ năm 1968 đến 1975, ta đã chủ động tấn công tiêu hao sinh lực địch trên địa bàn Đức Lập - Đăk Săk góp phần làm thất bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ, tạo điều kiện thuận lợi cho tuyến hành lang huyết mạch của ta trên địa bàn tỉnh Quảng Đức giao thông xuyên suốt. Trong đó, đáng ghi nhận là trận đánh ngày 9/3/1975 đã soá sổ hoàn toàn cứ điểm Đăk Săk, làm tiền đề tiến về giải phóng Buôn Ma Thuột (ngày 10/3/1975) mở màn chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Ngày nay, dấu tích lịch sử Đồi 722 – Đăk Săk là một trong những mốc son của trang sử đấu tranh giải phóng dân tộc ở tỉnh Đăk Nông, là nơi để giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức chính trị cho thế hệ trẻ, tri ân công lao và những hy sinh to lớn của các bậc cha, anh trong sư nghiệp giải phóng dân tộc.

Ngục Đăk Mil cùng với khu di tích lịch sử Đồi 722 - Đăk Săk được công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia và, Hồ tây Đăk Mil đã tạo nên một điểm đến du lịch lý tưởng cho du khách vùng tây nguyên nói riêng và du khách cả nước, nước ngoài nói chung. Đến với Đăk Mil ngoài việc được thưởng ngoạn các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh du khách còn được chứng kiến những sinh hoạt mang tính văn hóa hết sức đặc sắc: Những lễ hội văn hoá dân gian như Lễ hội Đâm trâu (ăn trâu), Lễ mừng nhà mới, Lễ mừng mùa, Lễ bỏ mả; những điệu múa cổ truyền, nhạc cụ dân tộc (cồng chiêng) và kiến trúc cổ truyền nhà sàn, nhà dài sống chung nhiều thế hệ và bên cạnh đó, du khách còn được thưởng thức những món ẩm thực mang đặc trưng của vùng Tây nguyên như: Cơm lam, rượu cần... Đặc biệt, Đăk Mil là một trong những nơi phát hiện ra đầu tiên hình thức văn hoá dân gian “sử thi” và đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước xem như là một thể loại văn học truyền miệng có quá trình văn hoá - lịch sử lâu đời đặc trưng của vùng Tây Nguyên, là viên ngọc quý trong kho tàng văn học và truyện cổ dân gian của Việt Nam được Nhà nước công nhận. Với những câu chuyện mang đậm nét thần thoại về các hiện tượng tự nhiên, về đấu tranh chế ngự thiên nhiên, ca ngợi những đức tính tốt đẹp, yêu tự do, lòng dũng cảm phản kháng áp bức, bóc lột…

Ngoài ra đồng bào Tày - Nùng - Dao, đã di cư vào sinh sống tại vùng đất “Long Sơn” đã duy trì Lễ hội Lồng tồng  (Lễ hội xuống đồng) được truyền từ đời này sang đời khác của đồng bào ở các tỉnh miền núi phía Cao Bằng, Lạng Sơn và một số tỉnh Tây Bắc. Lễ hội Lồng tồng cũng như lễ xuống đồng của người Kinh đều mang đậm dấu vết tín ngưỡng phồn thực và thành phần lễ hội sinh động: Chủ lễ vạch một đường cày đầu năm, bắt đầu cho cuộc sống nông tang, cày bừa, cấy, hái. Chọn ngày lành để thực hiện nhằm cầu mưa thuận, gió hoà, dân khang, vật thịnh. Sau nghi thức dâng hương kính cáo các vị thần, dân làng cử ra một người mắc ách vào con trâu mộng vạch một luống cày đầu năm mở đầu cho cuộc sống nhà nông.  Bên cạnh phần lễ, phần hội của lễ hội Xuống đồng đã thực sự tạo nên sự rộn ràng, náo nức, đông vui. Đó là các làn điệu dân ca, dân vũ, trò chơi, trò diễn,  thể hiện được đậm chất dân gian truyền thống nhưng vẫn toát lên sự khỏe khoắn, hiện đại.

Đã thành tập tục, sau những ngày vui xuân chấm dứt, một mùa đồng áng lại bắt đầu, các bản người Tày - Nùng - Dao của xã Long Sơn lại nhộn nhịp chuẩn bị lễ hội Lồng tồng. Từ vài ngày trước hội, các cụ cao niên trong xã đã tổ chức họp bàn, phân công công việc chuẩn bị cho lễ hội…

5. Về khí hậu

Địa hình Đăk Mil có độ cao trung bình 500m so với mặt nước biển, vùng phía bắc huyện từ 400 - 600 m và phia nam huyện từ 700 - 900 m, phần lớn địa hình có dạng đồi lượn sóng nối liền nhau bị chia cắt bởi nhiều sông suối nhỏ và các hợp thuỷ, xen kẽ là các thung lũng nhỏ, bằng, thấp.

Đăk Mil là khu vực khí hậu mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 4 đến hết tháng 11, tập trung trên 90% lượng mưa cả năm; mùa khô từ tháng 12 đến hết tháng 3 năm sau, lượng mưa không đáng kể. Nhiệt độ bình quân 22,30C, ẩm độ không khí bình quân năm là 85%, tổng tích ôn 7.2000C, lượng mưa bình quân 2.513mm. Điều kiện khí hậu nói trên thích hợp với nhiều loại cây trồng vật nuôi vùng nhiệt đới có giá trị kinh tế cao như Cà phê, Cao su, Hồ tiêu và các loại cây ăn trái khác như Sầu riêng, Bơ...

6. Về tài nguyên thiên nhiên

Kết quả điều tra của Phân viện điều tra quy hoạch và thiết kế - Bộ Nông nghiệp cho thấy: Đăk Mil là huyện có diện tích đất khá phong phú và màu mỡ (phần lớn là đất Basalt) thuận tiện cho việc phát triển các loại cây công nghiệp nhiệt đới có giá trị cao.

Tài nguyên khoáng sản của Đăk Mil qua các tài liệu điều tra nghiên cứu, có các loại khoáng sản chính: Đá xây dựng, Mỏ Bauxit, đá ​quý (Opan - Caxeđoan).