Skip Ribbon Commands
Skip to main content
 Nâng  cao hiệu quả giám sát của HĐND tỉnh ĐắkNông nhiệm kỳ 2011 – 2016
Tác giả: Lê Đình Vượng – CVP Đoàn ĐBQH&HĐND tỉnh.
 
 
 
Tính cấp thiết của đề tài
 
 
Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta hiện nay, vấn đề tiếp tục cải cách, kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước nói chung và hệ thống chính quyền địa phương nói riêng trong đó có Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp là yêu cầu khách quan và tất yếu. Là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương đồng thời đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do đó, xây dựng hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp có thực quyền để đảm đương đầy đủ vai trò, trách nhiệm là một yêu cầu bức xúc hiện nay. Với hai chức năng cơ bản: chức năng quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương và chức năng giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân thì chức năng giám sát có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đảm bảo HĐND thực sự là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, thực hiện đúng nguyên tắc quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân. Thực hiện tốt chức năng giám sát là một trong những yêu cầu quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND.
 
Trong nhiệm kỳ 2004 – 2011, Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Nông đã không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động để nâng cao hiệu quả thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của tỉnh. Trong đó, hoạt động giám sát đã có nhiều chuyển biến rõ rệt, đưa lại nhiều kết quả khả quan, bước đầu góp phần khắc phục tính hình thức trong hoạt động của Hội đồng nhân dân nói chung và hoạt động giám sát nói riêng.
Tuy nhiên, trong thực tiễn, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân trong thời gian qua vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, như cách thức tổ chức giám sát chưa khoa học, năng lực giám sát vẫn chưa thực sự hiệu quả, phương thức và nội dung giám sát chưa được đổi mới toàn diện, khả năng phát hiện các vấn đề trong quá trình giám sát của đại biểu HĐND tỉnh còn yếu, việc theo dõi, đôn đốc các cơ quan chức năng liên quan trong việc thực hiện các kết luận, kiến nghị sau giám sát của HĐND tỉnh còn thiếu tính quyết liệt, chưa có chế tài cho hoạt động giám sát dẫn đến làm giảm hiệu quả giám sát……….Để khắc phục tình trạng nêu trên, yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Nông trong nhiệm kỳ 2011 – 2016 là phải nâng cao hơn nữa hiệu quả giám sát của HĐND, để HĐND thực sự là cơ quan đại diện cho quyền và lợi ích của nhân dân trên địa bàn tỉnh.
Xuất phát từ yêu cầu lý luận và thực tiễn tham gia hoạt động, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Nâng cao hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Nông nhiệm kỳ 2011 – 2016”
1. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Trong phạm vi nghiên cứu, mục đích của đề tài là chỉ ra những bất cập, hạn chế đang tồn tại trong hoạt động tổ chức giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Nông. Trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động giám sát ở nhiệm kỳ 2004 – 2011, đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện hơn nữa cơ chế giám sát của HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2011 – 2016, đảm bảo Hội đồng nhân dân thực sự là cơ quan quyền lực, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân địa phương trong việc thực hiện quyền làm chủ của mình.
Để đạt được mục đích trên, đề tài nghiên cứu có nhiệm vụ:
- Phân tích cơ sở lý luận về hoạt động giám sát và hiệu quả giám sát của HĐND tỉnh
- Thực trạng giám sát và hiệu quả giám sát của HĐND tỉnh Đắk Nông
- Trình bày một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND tỉnh Đắk Nông nhiệm kỳ 2011 – 2016.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đề tài tập trung nghiên cứu về hoạt động giám sát tại các Kỳ họp của HĐND tỉnh, hoạt động giám sát theo nghị quyết hàng năm, hoạt động giám sát của các Ban của HĐND tỉnh và của đại biểu HĐND tỉnh Đắk Nông, nhiệm kỳ 2004 – 2011 và các giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Nông trong nhiệm kỳ 2011 – 2016.
3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
Cơ sở lý luận của đề tài là những quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênnin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; các quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về đường lối đổi mới đất nước, về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng và các Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng, cũng như Hiến pháp và các văn bản pháp luật của Nhà nước.
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện, đề tài đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống, phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn…để giải quyết những vấn đề đặt ra trong đề tài.
4. Kết cấu của đề tài:
Đề tài nghiên cứu có bố cục các phần: mở đầu, ba chương và kết luận.
Chương I: Cơ sở lý luận về hoạt động giám sát và hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh
Chương II: Thực trạng giám sát và hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Nông nhiệm kỳ 2004 – 2011
Chương III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND tỉnh Đắk Nông nhiệm kỳ 2011 – 2016
 
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT
VÀ HIỆU QUẢ GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH
 
1.     Vị trí, vai trò, chức năng của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Theo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) – đạo luật cơ bản nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã quy định tại Điều 119 về vị trí và tính chất pháp lý của Hội đồng nhân dân: "HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên". Đây cũng là nội dung được quy định tại Điều 1, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003. Như vậy, Hội đồng nhân dân nói chung và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nói riêng có 2 tính chất pháp lý cơ bản: "là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương"; và "là cơ quan đại biểu của nhân dân ở địa phương".
Là cơ quan quyền lực Nhà nước tại địa phương, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có chức năng, thẩm quyền và trách nhiệm trong việc quyết định các chủ trương, biện pháp quan trọng nhằm xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương, trong đó có các biện pháp bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước.
Tính quyền lực nhà nước còn thể hiện trong phạm vi thẩm quyền được giao, Hội đồng nhân dân tỉnh có quyền đơn phương quyết định và quyết định đó có tính bắt buộc thực hiện đối với mọi cơ quan, tổ chức có liên quan trên địa bàn tỉnh.  Các nghị quyết của HĐND tỉnh ban hành có tính bắt buộc thực hiện đối với tất cả các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan trên địa bàn tỉnh.
Cũng do tính quyền lực nhà nước của HĐND đã được Hiến pháp và các văn bản luật xác định, nên HĐND tỉnh còn thực hiện chức năng giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật và các nghị quyết của HĐND tỉnh đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân có liên quan trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật, cũng như giám sát hoạt động công tác của Thường trực HĐND, UBND, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp (xem: Điều 120 Hiến pháp 1992, Điều 1 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003).
            Là cơ quan đại biểu của nhân dân địa phương, Hội đồng nhân dân tỉnh được cử tri trên địa bàn tỉnh bầu ra, trực tiếp đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân theo quy định của Hiến pháp 1992 tại Điều 121. Dó đó, mỗi đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh phải phát huy hiệu quả vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình trong việc đại diện cho tiếng nói của cử tri tham gia vào các hoạt động quản lý của nhà nước trên địa bản tỉnh, phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri và phải có trách nhiệm vận động cử tri nơi ứng cử cũng như nhân dân chấp
hành và thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của Hội đồng nhân dân.
            2. Các khái niệm và nội dung hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh
            2.1. Khái niệm hoạt động và hiệu quả hoạt động giám của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
            Theo từ điển Tiếng Việt, giám sát là theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định hay không.
            Theo Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội ban hành năm 2003, tại khoản 1 Điều 2 giải thích “Giám sát là việc Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội”.
Trong Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và UBND năm 2003 tuy không định nghĩa cụm từ giám sát nhưng các nội dung trong chương III của luật này quy định cụ thể nội dung mà Hội đồng nhân dân tiến hành giám sát bao gồm: giám sát tổ chức hoạt động của các cơ quan do HĐND bầu ra và giám sát việc thi hành pháp luật và nghị quyết của các đối tượng chịu sự giám sát của HĐND thông qua các hình thức:  xem xét báo cáo công tác của những đối tượng theo quy định pháp luật; xem xét trả lời chất vấn của những đối tượng này; tổ chức các đoàn giám sát; bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do HĐND bầu, thông qua việc tiếp dân và theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến HĐND ... 
Như vậy, giám sát là một trong hai chức năng quan trọng của HĐND, thông qua hoạt động giám sát chúng ta có thể kiểm chứng lại tính đúng đắn, sự phù hợp về các quy định của pháp luật đã, đang được áp dụng trong cuộc sống và những chủ trương biên pháp mà HĐND đã quyết nghị; giúp chúng ta phát hiện ra những khó khăn, vướng mắc và kịp thời có những giải pháp thảo gỡ để thực hiện nhiệm vụ một cách chủ động. Hoạt động giám sát còn là cơ sở để thực hiện công tác thẩm tra và đi đến quyết định vấn đề một cách chính xác, bảo đảm các nghị quyết ban hành có chiều sâu, sát thực tiễn, phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của cử tri.
Trong tình hình thực tế hiện nay, xác định hiệu quả giám sát là một nhiệm vụ phức tạp và đầy khó khăn cả về mặt lý luận và thực tiễn. Theo các nhà ngôn ngữ học, khái niệm hiệu quả được hiểu là kết quả đạt được trong việc thực hiện một nhiệm vụ nhất định. Trong khi đó các nhà quản lý hành chính lại cho rằng: hiệu quả là sự so sánh giữa các chi phí đầu tư với các giá trị của đầu ra, sự tăng tối đa lợi nhuận và tối thiểu chi phí, là mối tương quan giữa sử dụng nguồn lực và tỷ lệ đầu ra, đầu vào. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu về hiệu quả giám sát của HĐND, cần phải đặt hiệu quả trong mối quan hệ với hiệu lực giám sát của HĐND. Hiệu quả cao hay thấp phụ thuộc vào việc HĐND thực hiện chức năng giám sát của mình theo quy định của pháp luật đến đâu cũng như những kết luận kiến nghị từ hoạt động giám sát có được các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm chỉnh hay không. Để đảm bảo hiệu lực, hoạt động giám sát có chất lượng, nghĩa là phải đưa ra những kết luận đề xuất đúng đắn. Trong mối quan hệ giữa chất lượng và hiệu lực giám sát thì chất lượng giám sát là tiền đề bảo đảm thực hiện hiệu lực nhưng để đảm bảo hiệu lực giám sát cần có sự tự giác chấp hành nghiêm chỉnh của các chủ thể bị giám sát đối với các kết luận, đề xuất đúng đắn rút ra từ hoạt động giám sát. Đồng thời cần có các biện pháp xử lý đối với các chủ thể không chấp hành nghiêm các kết luận đề xuất đó. Một khi chất lượng và hiệu lực giám sát được đảm bảo thì đương nhiên hiệu quả giám sát sẽ tốt hơn. Như vậy giữa hiệu lực và hiệu quả giám sát có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Tuy nhiên, vì tính hiệu quả của hoạt động giám sát, bên cạnh việc đảm bảo về mặt hiệu lực phải tính toán những chi phí đầu tư cần phải ở mức tối ưu.
Từ những phân tích trên, hiệu quả giám sát của HĐND được hiểu là hiệu lực thi hành các kiến nghị của hoạt động giám sát, đem lại kết quả phù hợp với mục đích giám sát, với những chi phí hợp lý về thời gian, trí lực, vật lực….cho hoạt động giám sát.
2.2. Các nội dung trong hoạt động giám sát của HĐND
Chủ thể giám sát của HĐND bao gồm: giám sát của HĐND tại kỳ họp, giám sát của Thường trực HĐND, giám sát của các Ban của HĐND và giám sát của đại biểu HĐND.
Đối tượng giám sát của HĐND bao gồm hoạt động của Thường trực HĐND, UBND và các cơ quan chuyên môn của UBND cùng cấp, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, HĐND cấp dưới trực tiếp và các cơ quan nhà nước khác, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương trong việc chấp hành pháp luật và nghị quyết của HĐND.
Hội đồng nhân dân giám sát hoạt động công tác của các cơ quan do HĐND bầu ra hoặc theo quy định của pháp luật là đối tượng phải báo cáo công tác trước HĐND, giám sát việc thi hành pháp luật và nghị quyết của HĐND đối với đối tượng thuộc quyền giám sát của HĐND.
Để hoạt động giám sát có hiểu quả, Hội đồng nhân dân thực hiện thông qua các hình thức như: xem xét báo cáo công tác của những đối tượng theo quy định của pháp luật; xem xét trả lời chất vấn của các đối tượng này; tổ chức các đoàn giám sát; bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do HĐND bầu, thông qua việc tiếp dân và theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến HĐND……
3. Các yếu tố bảo đảm hiệu quả giám sát của HĐND
3.1. Các quy định của pháp luật về hoạt động giám sát của HĐND
Đây là yếu tố đầu tiên tác động rất lớn đến hiệu quả giám sát của HĐND, bởi các quy định của pháp luật về giám sát là cơ sở pháp lý cho HĐND thực hiện vai trò, chức năng và nhiệm vụ của mình. Nếu luật không quy định cụ thể về thủ tục, trách nhiệm, quyền hạn….của các đối tượng liên quan đến hoạt động giám sát thì việc ghi nhận chức năng giám sát của HĐND trong Hiến pháp cũng chỉ là hình thức. Điều này đã được chứng minh trong thực tiễn phát triển của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 đã cụ thể, chi tiết hóa chức năng giám sát của HĐND nên trong những năm vừa qua đã mang lại nhiều kết quả đáng kể. Như vậy, để nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND thì đòi hỏi quan trọng nhất là phải ban hành đủ các văn bản pháp luật trong lĩnh vực giám sát của HĐND nói riêng và toàn bộ hoạt động của HĐND nói chung.
3.2. Tổ chức bộ máy hoạt động của HĐND
Để thực hiện tốt chức năng của mình, đặc biệt là chức năng giám sát đòi hỏi HĐND phải có tổ chức bộ máy hoạt động khoa học, linh hoạt, năng động và hiệu quả. Bởi thực tế cho thấy, bất kỳ một cơ quan nào, nếu có tổ chức bộ máy hợp lý và đồng bộ sẽ tạo nên guồng máy làm việc nhịp nhàng và mang lại hiệu quả cao.
 
3.3. Năng lực, bản lĩnh và trách nhiệm thực hiện chức năng giám sát của đại biểu HĐND
Suy cho cùng, đại biểu HĐND là nguồn gốc của mọi vấn đề liên quan đến chất lượng và hiệu quả giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương. Con người là yếu tố quyết định hiệu lực hiệu quả hoạt động của tổ chức. Do vậy, bên cạnh việc đảm bảo về mặt số lượng, trình độ am hiểu pháp luật, người đại biểu cần phải có năng lực, bản lĩnh và trách nhiệm khi tiến hành các hoạt động giám sát. Các đại biểu phải có đủ tâm, đủ tài và đủ tầm. Ngoài việc công nhận cái đúng còn phải chỉ rõ và đề ra các kiến nghị, các biện pháp hữu ích để loại bỏ những cái tiêu cực, trái pháp luật, phát hiện cái sai của người khác, của các ngành chức năng. Như vậy, người đại biểu nhân dân phải có trình độ, bản lĩnh vững vàng, có cái nhìn sáng suốt và phương pháp làm việc khoa học, hợp lý. Dám nói thẳng, nói thật, không nể nang, né tránh, phải vì lợi ích của nhân dân, của nhà nước.
3.4. Kế hoạch và chương trình giám sát của HĐND
Hiệu quả công việc phụ thuộc rất nhiều vào công tác chuẩn bị. Trong quá trình giám sát, xây dựng kế hoạch và lựa chọn hình thức giám sát phù hợp là điều kiện để đảm bảo thế chủ động cho HĐND khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Hơn thế, giám sát là công việc khó khăn và phức tạp bao gồm nhiều khâu, nhiều công đoạn, đồng thời đòi hỏi sự tinh tế và nhạy bén, nếu không có kế hoạch nghiên cứu trước các đối tượng được giám sát thì rất dễ rơi vào hình thức. Mặt khác, phạm vi giám sát của HĐND rất rộng, lại đặt trong điều kiện chúng ta đang thực hiện chương trình hoạt động giám sát nên việc xây dựng chương trình, lên kế hoạch, lựa chọn hình thức giám sát phù hợp là những việc làm hết sức cần thiết. Chương trình giám sát phải có trọng tâm, trọng điểm, nội dung giám sát cần tập trung vào những vấn đề thiết thực, bức xúc được đa số đại biểu HĐND biểu quyết tán thành và được đông đảo cử tri ở địa phương quan tâm.
3.5. Điều kiện vật chất, chi phí hoạt động giám sát của HĐND
Muốn nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát, cần đầu tư chi phí và điều kiện vật chất cho hoạt động giám sát như kinh phí, phương tiện vàcon người phục vụ cho hoạt động giám sát.
Thứ nhất, phải tăng đầu tư chi phí cho hoạt động giám sát. Nếu có đầu tư thỏa đáng sẽ góp phần tích cực nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND. Chẳng hạn, ở những địa phương thuộc vùng sâu, vùng sa, vùng cao công việc giám sát lại chủ yếu diễn ra ở cơ sở nên cần có chế độ kinh phí bồi dưỡng cho cán bộ trực tiếp xuống giám sát, tạo điều kiện thuận lợi cho đoàn giám sát trong thời gian làm việc tại cơ sở.
Thứ hai, đầu tư chi phí cho hoạt động giám sát phải tối ưu, nghĩa là chỉ đủ mức cần thiết và triệt để tiết kiệm, chống lãng phí. Không phải bao giờ và ở đâu, cứ tăng đầu tư chi phí thì khi đó và ở đó công tác giám sát có hiệu quả. Ngược lại, nhiều khi chỉ ở mức kinh phí hạn hẹp nhưng nếu tổ chức thực hiện tốt, tìm ra những hình thức, phương pháp thích hợp thì cũng có thể mang lại hiệu quả cao.
Như vậy, khi nói tới hiệu quả của bất kỳ hoạt động nào nói chung và giám sát nói riêng đều đòi hỏi phải tính đến mức đầu tư chi phí hợp lý, tối ưu.
4. Đánh giá hiệu quả giám sát của HĐND cấp tỉnh
Để đánh giá hiệu quả giá, sát của HĐND cần có những tiêu chí nhất định, mỗi tiêu chí được xem là một căn cứ để xác định hiệu quả giám sát trên một phương diện khác nhau. Vì vậy, để đánh giá đúng hiệu quả giám sát cần xác định các tiêu chí cần thiết:
4.1. Tình hình kinh tế - xã hội sau khi có hoạt động giám sát so với trước khi có hoạt động giám sát
Đây là tiêu chí đầu tiên cần phải xem xét bởi tất cả các hoạt động của cơ quan, tổ chức mục đích cuối cùng nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương ngày càng phát triển. Đồng thời thông qua giám sát, HĐND không những chỉ có quyền kiến nghị với UBND, với các ngành có liên quan mà có thể kiến nghị với Trung ương về việc đưa ra những chủ trương, chính sách cho phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của địa phương. Do vậy, muốn biết hoạt động giám sát của HĐND có mang lại hiệu quả hay không, chúng ta phải có những biện pháp so sánh tình hình kinh tế - xã hội của địa phương sau khi có hoạt động giám sát với trước khi hoạt động có giám sát. Nếu sau chương trình giám sát hàng năm của HĐND, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn có những chuyển biến tích cực, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, thì điều đó cho thấy, hoạt động giám sát của HĐND đã mang lại hiệu quả và ngược lại.
Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương không hoàn toàn chỉ do sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố quan trọng khác. Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả giám sát của HĐND theo tiêu chí này cũng ở mức độ tương đối.
4.2. Mức độ đạt được mục đích yêu cầu giám sát
Cũng giống như các hoạt động khác, khi tiến hành giám sát, HĐND phải xác định đúng mục đích của hoạt động giám sát được thể hiện ở nhiều cấp độ phạm vi khác nhau. Ở cấp độ chung, mục đích của giám sát là việc bảo đảm cho sự hoạt động đúng đắn, minh bạch, liên tục của từng cá nhân trong bộ máy Nhà nước nói chung, trên cơ sở tuân thủ thường xuyên, nghiêm chỉnh các quy định về nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn của họ theo luật định. Ở cấp độ thứ hai, tuỳ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng đối tượng bị giám sát, HĐND đề ra những mục đích giám sát cụ thể khác nhau.
Căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương, HĐND xây dựng chương trình giám sát hàng năm và thực hiện chương trình đó theo những mục đích đề ra. Do đó để đánh giá hiệu quả giám sát của HĐND, chúng ta phải xem xét mức độ đạt được của mục đích, yêu cầu giám sát. Bởi mục đích của giám sát là điều mà mọi thành viên khi tiến hành giám sát đều hướng tới và mong muốn đạt được. Vì vậy, mục đích đã trở thành tiêu chuẩn, thước đo cho việc đánh giá hiệu quả giám sát, là phạm vi cho việc đánh giá kết quả thực tế. Tuy nhiên với cách xác định này, mục đích đề ra cho từng cuộc giám sát phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định cho đối tượng bị giám sát và phải phù hợp với nghị quyết của HĐND, cũng như với yêu cầu thực tiễn đề ra.
4.3. Các kết quả đạt được do tác động của hoạt động giám sát
Một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả giám sát của HĐND là phải căn cứ vào kết quả thực tế do tác động giám sát mang lại. Muốn vậy, kết thúc mỗi cuộc giám sát, HĐND phải xác định được các kết quả trong cuộc giám sát đó. Chẳng hạn, nếu giám sát lĩnh vực xây dựng cơ bản thì phải ngăn chặn được vấn đề thất thoát vốn Nhà nước, nếu giám sát vấn đề thu thuế thì phải đánh giá được số phần trăm thất thu, thất nộp và doanh số mức thu cho ngân sách Nhà nước phải được tăng lên... Làm tốt được điều đó là một trong những yếu tố quan trọng đẩy lùi tính hình thức trong hoạt động giám sát của HĐND. Rõ ràng đây là một tiêu chí phức tạp, vì kết quả thực tế do giám sát của HĐND mang lại nhiều khi không những thể hiện bằng yếu tố định lượng mà còn cả yếu tố định tính. Hơn nữa, HĐND có phạm vi giám sát rộng, những biến đổi do sự tác động giám sát của HĐND nhiều khi không chỉ phát sinh trực tiếp từ đối tượng bị giám sát mà còn ảnh hưởng đến các đối tượng liên quan. Do đó, để xác định được những kết quả thực tế từ tác động của giám sát, đòi hỏi phải có quan điểm toàn diện, cụ thể, đồng thời phải có những phương pháp đúng đắn để thu thập nhiều nguồn thông tin và tư liệu khác nhau.
4.4. Kết quả đạt được so với chi phí bỏ ra
“Hiệu quả chính là chỉ số so sánh giữa kết quả thu về với chi phí bỏ ra”, vì vậy khi đánh giá hiệu quả phải tính đến những chi phí để đạt được kết quả đó. Chi phí bao gồm: chi phí về vật chất, tinh thần cũng như số lượng người tham gia, thời gian tiến hành... Tất cả những phí tổn cho việc giám sát đều cần ở mức thấp nhưng phải đủ đảm bảo cho các chủ thể giám sát phát huy tốt vai trò, nhiệm vụ và năng lực của mình để đạt được những kết quả ở mức cao nhất. Điều này có nghĩa là, phải biết tiết kiệm và phải biết lựa chọn những phương pháp ít tốn kém để đạt được mục đích đề ra. Mặc dù vậy, giám sát là một hoạt động chủ yếu mang tính xã hội nên để tính kết quả thu về so với chi phí bỏ ra là điều rất khó khăn, phức tạp. Bởi yếu tố vừa định lượng vừa định tính không chỉ thể hiện trong kết quả thu về mà ngay cả trong đầu tư, chi phí bỏ ra. Cho nên, khi căn cứ vào tiêu chí này để đánh giá hiệu quả giám sát thì cũng chỉ tính toán ở mức độ tương đối. Vấn đề quan trọng phải biết được đặc thù của công tác giám sát để vận dụng cho phù hợp.
Trong hoạt động giám sát, tính kinh tế liên quan chặt chẽ với tính xã hội. Có những cuộc giám sát nếu tính dưới góc độ kinh tế thì không mang lại lợi ích thiết thực nhưng dưới góc độ xã hội lại mang lại hiệu quả rất lớn. Một số lĩnh vực nếu được giám sát đến cùng và triệt để không những góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, mà còn có tác dụng to lớn trong việc chấn chỉnh các vấn đề chính trị - xã hội chung. Vì vậy, khi căn cứ vào tiêu chí kinh phí để xem xét hiệu quả giám sát của HĐND, phải xem xét cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của công tác giám sát.
 
 
 CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG GIÁM SÁT VÀ HIỆU QUẢ GIÁM SÁT
 CỦA HĐND TỈNH ĐẮK NÔNG
 
 
            1. Thực trạng hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Đắk Nông nhiệm kỳ 2004 – 2011
            1.1. Điều kiện tự nhiên và tình hình KT – XH tỉnh Đắk Nông
            Tỉnh Đắk Nông nằm ở phía Tây Nam vùng Tây Nguyên, phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Đắk Lắk, phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Nam giáp tỉnh Bình Phước, phía Tây giáp Cămpuchia với 130 km đường biên giới, có 2 cửa khẩu chính là Bu Prăng và Đăk Perr. Diện tích tự nhiên của tỉnh là 6.513 km2, dân số trung bình năm 2010 là 513 nghìn người. Hiện nay, toàn tỉnh có 7 huyện là Cư Jút, Đắk Mil, Krông Nô, Đắk Song, Đắk R'Lấp, Đắk Glong, Tuy Đức và thị xã Gia Nghĩa, trung tâm tỉnh lỵ là thị xã Gia Nghĩa. Trên địa bàn tỉnh Đăk Nông có Quốc lộ 14 đi qua, nối Đắk Nông với Đắk Lăk, các tỉnh miền Đông Nam bộ và thành phố Hồ Chí Minh; có Quốc lộ 28 nối Đắk Nông với Lâm Đồng và Bình Thuận. Mặt khác, Đắk Nông nằm trong vùng tam giác phát triển Cam puchia- Lào-Việt Nam, đang được Chính phủ 3 nước quan tâm tích cực đầu tư xây dựng nhằm tạo bước đột phá về xây dựng kết cấu hạ tầng, đặc biệt là phát triển giao thông đường bộ, tạo sự kết nối giữa các trung tâm, phát triển mạnh mối quan hệ kinh tế liên vùng. Yếu tố này mở ra cho Đắk Nông có nhiều điều kiện khai thác và vận dụng các chính sách cho phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh.
            Tỉnh Đắk Nông có địa hình đa dạng và phong phú, có sự xen kẽ giữa các địa hình thung lũng, cao nguyên và núi cao. Khí hậu vừa mang tính chất khí hậu cao nguyên nhiệt đới ẩm, vừa chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam khô nóng và có 2 mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa. Mạng lưới sông suối phân bố tương đối đều khắp,  thuận lợi để khai thác nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, xây dựng các công trình thủy điện phục vụ các ngành kinh tế và nhu cầu dân sinh. Tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh hiện nay có 651.562 ha. Trong đó: đất nông nghiệp có diện tích là 592.997 ha, chiếm 91,01% tổng diện tích tự nhiên, đất phi nông nghiệp có diện tích 42.208 ha, chiếm 6,48% tổng diện tích tự nhiên. Diện tích đất lâm nghiệp có rừng 294.476 ha, độ che phủ toàn tỉnh đạt 45%. Rừng tự nhiên được phân bố đều khắp các huyện, tập trung chủ yếu ở vùng núi cao, có tác dụng phòng hộ đầu nguồn, chống xói mòn, bảo vệ môi sinh. Rừng tự nhiên ở Đắk Nông có nhiều hệ động vật và thực vật phong phú và đa dạng. Rừng phát triển tốt, những khu rừng nguyên sinh có nhiều loại gỗ quí và cây đặc sản vừa có giá trị kinh tế, vừa có giá trị khoa học. Trong rừng còn nhiều động vật quí hiếm như voi, gấu, hổ v.v. được ghi trong sách đỏ của nước ta và sách đỏ thế giới; có nhiều loại dược liệu quí là nguồn nguyên liệu dồi dào để chế thuốc chữa bệnh trong y học dân tộc. Đặc biệt, khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung, Tà Đùng có những khu rừng nguyên sinh với nhiều cảnh quan, thác nước đẹp tạo nên quần thể du lịch hấp dẫn. Nguồn nước mặt do nguồn nước mưa cung cấp, tương đối dồi dào, thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt dân cư trên địa bàn toàn tỉnh. Nguồn nước ngầm, phân bố ở hầu khắp cao nguyên bazan và các địa bàn trong tỉnh, có trữ lượng lớn ở độ sâu 40-90m. Đây là nguồn cung cấp nước bổ sung cho sản xuất và sinh hoạt vào mùa khô, được sử dụng phổ biến cho sinh hoạt, làm kinh tế vườn, kinh tế trang trại. Bên cạnh đó, Đắk Nông có nguồn tài nguyên khoáng sản vô cùng phòng phú và dồi dào chủ yếu là bauxit, wolfram, antimoal, bazan bọt; bazan cột, bazan khối, cát xây dựng, đá bazan, đá granit, sét gạch ngói, than bùn, opal, thiếc sa khoáng, kaolin, nước khoáng thiên nhiên, saphir với trữ lượng lớn, là nguyên liệu cho sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác công nghiệp, sản xuất gạch, ngói phục vụ nhu cầu xây dựng các công trình kinh tế-xã hội cũng như xây dựng dân dụng cho khu vực dân cư trên địa bàn tỉnh. Mặt khác, tỉnh có nhiều thắng cảnh thiên nhiên đẹp như các khu rừng nguyên sinh, các thác nước và các hồ chứa nước tự nhiên và nhân tạo. Các thác nước đẹp, hùng vĩ, còn nguyên sơ nằm giữa rừng già như thác Trinh Nữ, thác Dray H'Linh, Dray Sáp…..là những tiềm năng cho phát triển du lịch văn hóa, nhân văn.
            Được thành lập từ năm 2004 trên cơ sở chia tách từ tỉnh Đắk Lắk, sau 7 năm
kinh tế tỉnh Đắk Nông liên tục phát triển với tốc độ cao, khu vực công nghiệp và xây dựng có bước tăng trưởng đột phá, lĩnh vực xã hội có những bước tiến quan trọng. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản liên tục tăng trưởng khá và giữ vai trò nền tảng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Sản xuất công nghiệp tăng mạnh, ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hoạt động thương mại - du lịch bước đầu phát triển và có tốc độ tăng nhanh. Cùng với sự phát triển kinh tế của cả tỉnh, lĩnh vực giao thông vận tải đã và đang được đầu tư, nâng cấp, xây dựng. Khối lượng hành khách và hàng hóa vận chuyển tăng mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa, vật tư của dân cư. Bên cạnh đó, do có sự hỗ trợ về cơ chế, chính sách đầu tư của nhà nước, mạng lưới bưu chính - viễn thông không ngừng được mở rộng, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt trong mọi tình huống, kể cả vùng nông thôn, biên giới, vùng sâu, vùng xa. Các lĩnh vực xã hội có những bước chuyển quan trọng, góp phần nâng cao đời sống tinh thần, trình độ dân trí và chăm sóc sức khỏe nhân dân.
            1.2. Về cơ cấu, chất lượng đại biểu HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2004 – 2011 và tổ chức bộ máy hiện nay
            Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Nông khoá I, nhiệm kỳ 2004 – 2011 được bầu ra trong cuộc bầu cử HĐND 3 cấp vào tháng 4/2004 gồm có 50 đại biểu. Trong đó, đại biểu nữ có 9 đại biểu chiếm tỷ lệ 18%, đồng bào dân tộc thiểu số 9 đại biểu chiếm 18%, ngoài đảng 3 đại biểu chiếm tỷ lệ 6 %, tôn giáo 01 đại biểu chiếm tỷ lệ 2%. Tại Kỳ họp thứ nhất HĐND tỉnh đã bầu ra: Thường trực HĐND tỉnh gồm 3 đồng chí: Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Uỷ viên Thường trực hoạt động chuyên trách; 4 Ban của HĐND tỉnh: Ban Kinh tế - Ngân sách, Ban Văn hoá – Xã hội, Ban Pháp chế, Ban Dân tộc; trong đó Trưởng các Ban của HĐND tỉnh là Trưởng ban hoặc Phó Trưởng ban các ban đảng của Tỉnh uỷ, Phó Trưởng ban HđND tỉnh hoạt động chuyên trách và 5 thành viên là lãnh đạo các sở, ban, ngành của tỉnh, Chủ tịchHĐND, UBND cấp huyện. Trong suốt nhiệm kỳ, HĐND tỉnh luôn đổi mới phương thức hoạt động, khắc phục mọi khó khăn, quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân trên địa bàn tỉnh, xứng đáng là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương.
            1.3. Thực trạng hoạt động giám sát của HĐND tỉnh trong nhiệm kỳ qua
 Trong nhiệm kỳ 2004 – 2011, Thường trực HĐND tỉnh tổ chức 86 cuộc giám sát dưới nhiều hình thức: giám sát tại kỳ họp của HĐND tỉnh, giám sát theo nghị quyết hàng năm của Thường trực HĐND, các Ban của HĐND tỉnh và hoạt động giám sát của các đại biểu HĐND tỉnh. Nội dung các cuộc giám sát chủ yếu tập trung vào việc triển khai thực hiện nghị quyết của HĐND tỉnh và các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên. Sau mỗi đợt giám sát, tổ chức họp rút kinh nghiệm; chỉ rõ cho các cơ quan, đơn vị chịu sự giám sát thấy được những ưu điểm cần phát huy và những hạn chế cần khắc phục; tìm ra những tồn tại và nguyên nhân tồn tại. Trên cơ sở đó có những đề xuất, kiến nghị với các cơ quan, đơn vị chịu sự giám sát cũng như các cơ quan đơn vị có thẩm quyền giải quyết. Các đề xuất, kiến nghị của các Đoàn giám sát đều có tác động tích cực đến  hiệu quả công tác của từng đơn vị, được cơ sở tiếp thu và có biện pháp khắc phục, sửa chữa. Công tác giám sát qua văn bản cũng được Thường trực HĐND, các Ban HĐND quan tâm, thường xuyên theo dõi việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND cấp dưới và UBND cùng cấp nhằm bảo đảm các văn bản đúng thẩm quyền, đúng quy định.
Nhìn chung, hoạt động giám sát của HĐND các cấp từ đầu nhiệm kỳ đến nay đã đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, qua các đợt giám sát, khảo sát đã chỉ ra được những hạn chế, đề ra nhiều giải pháp thiết thực giúp cơ quan thi hành thực hiện hiệu quả nhiệm vụ được giao; các chủ trương chính sách pháp luật của Nhà nước được thực hiện nghiêm túc, đầy đủ theo quy định, qua giám sát cũng đề nghị UBND và HĐND ban hành nhiều nghị quyết, quyết định về chủ trương chính sách trên địa bàn nhằm thực hiện hiệu quả các quy định của Nhà nước cấp trên và của Đảng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh chính trị và ổn định hệ thống chính trị của địa phương.
Tuy nhiên, hoạt động giám sát của HĐND còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế do các quy định của pháp luật chưa cụ thể như, đặc biệt là chế tài trong giám sát của HĐND các cấp chưa rõ ràng, nên các kiến nghị sau giám sát chưa được quan tâm giải quyết, nhưng không có biện pháp để xử lý, phần nào hoạt động giám sát đang bị xem nhẹ; việc tham gia hoạt động  giám sát của các cá nhân đại biểu HĐND chưa tích cực, hầu hết việc giám sát dừng lại ở Thường trực HĐND, các Ban HĐND nên chất lượng giám sát còn hạn chế.
            2. Đánh giá hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Đắk Nông trong thời gian qua
            2.1. Ưu điểm
Qua theo dõi kết quả việc thực hiện Nghị quyết của HĐND về chương trình giám sát hằng năm, thì hoạt động giám sát của HĐND từ đầu nhiệm kỳ đến nay có nhiều tiến bộ và từng bước đi vào nề nếp với chất lượng và hiệu quả từng bước được nâng lên… Các hoạt động giám sát của Thường trực, các Ban được tổ chức thường xuyên vào thời điểm trước, trong và giữa hai kỳ họp; kế hoạch giám sát được xây dựng khá cụ thể, sát thực tế; nội dung giám sát được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực : kinh tế, văn hoá xã hội, pháp luật… từng thời gian có tập trung vào những vấn đề bức xúc, sát thực tiễn và phù hợp với nguyện vọng của cử tri; hình thức giám sát không ngừng được đổi mới… Sau giám sát các Đoàn đều rút kết được những vấn đề bức xúc cần giải quyết, đồng thời nêu những kiến nghị cụ thể để yêu cầu các cơ quan chức năng giải quyết và được các đơn vị thực hiện khá nghiêm túc.               
            2.2. Tồn tại
            Bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong nhiệm kỳ 2004 – 2011 của HĐND tỉnh, hoạt động giám sát vẫn còn nhiều lúng túng, bất cập, chưa mang lại hiệu quả cao, thường bộc lộ một số hạn chế chủ yếu sau: Công tác giám sát chưa đều, chủ yếu do Thường trực và các ban của HĐND tiến hành; việc tham gia hoạt động giám sát của các đại biểu còn hạn chế, chủ yếu mới giám sát tại kỳ họp; nội dung giám sát có lúc chưa sâu, chưa tập trung vào các vấn đề mang tính bức xúc ở địa phương, những vấn đề mà nhiều cử tri quan tâm. Kết luận của Đoàn giám sát đôi lúc còn sơ sài, chưa chỉ đúng căn nguyên, đúng trọng tâm vấn đề đề cập… Cũng có trường hợp kết luận của đoàn giám sát chưa được coi trọng, sự tiếp thu, khắc phục còn hạn chế. Ngoài ra, trong thực hiện giám sát vẫn còn có sự né tránh, nể nang, ngại va chạm… nên hiệu lực và hiệu quả giám sát của HĐND chưa cao.
            2.3. Nguyên nhân yếu kém, tồn tại, hạn chế hiệu quả giám sát của HĐND tỉnh
* Về nhận thức:
Việc nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ về vị trí, chức năng, vai trò, trách nhiệm của Thường trực HĐND, các Ban của HĐND, các tổ đại biểu và các đại biểu HĐND trong hoạt động HĐND và công tác giám sát của HĐND; là sự lẫn lộn giữa hai khái niệm giám sátthanh tra, kiểm tra; là việc chưa nắm vững đối tượng giám sát và nội dung giám sát.
* Các quy định của pháp luật – căn cứ pháp lý cho hoạt động giám sát:
Mặc dù, hệ thống pháp luật về hoạt động giám sát của HĐND đã được sửa đổi, bổ sung khá nhiều nhưng vẫn chưa chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, thiếu cụ thể, đặc biệt thiếu hẳn những chế tài, biện pháp xử lý sau giám sát đối với các chủ thể bị giám sát. Chúng ta đã có Luật giám sát của Quốc hội nhưng HĐND thì chưa có, vì vậy, HĐND chưa có công cụ pháp lý đủ mạnh và hữu hiệu trong hoạt động giám sát của mình.
* Sự phối hợp với UBMTTQVN tỉnh:
Chưa có sự phối hợp chặt chẽ và hiệu quả giữa chức năng giám sát của HĐND tỉnh với chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc VN cùng cấp. Bởi vì chức năng giám sát và phản biện xã hội có mối quan hệ chặt chẽ, tác động tích cực và tạo điều kiện cho HĐND tỉnh thực hiện tốt hơn chức năng giám sát của mình.  
* Sự thiếu tự tin và chưa quyết liệt:
Tư tưởng nể nang, ngại va chạm, biết nhưng không dám nói hoặc nói như thế nào để giữ hòa khí vv… vẫn còn trong một số ít đại biểu HĐND. Thêm nữa, tính hình thức trong hoạt động của HĐND vẫn còn, cơ chế cho hoạt động giám sát của từng đại biểu chưa rõ ràng làm cho một số đại biểu HĐND thiếu tự tin và tin tưởng vào hoạt động HĐND và công tác giám sát của HĐND.
* Về năng lực, trình độ:
Nội dung hoạt động HĐND và công tác giám sát của HĐND rất phong phú, đa dạng, có nhiều vấn đề mang tính nghiệp vụ chuyên sâu trong khi đa số các đại biểu HĐND hoạt động kiêm nhiệm, mỗi người chỉ có năng lực chuyên môn trong từng lĩnh vực chuyên ngành nhất định, kỹ năng thảo luận, đánh giá vấn đề còn hạn chế. Điều này gây khó khăn đáng kể cho hoạt động HĐND và công tác giám sát của HĐND.
* Thiếu thông tin và thời gian:
 Để các hoạt động HĐND và công tác giám sát của HĐND có chất lượng, việc nắm bắt thông tin nhiều chiều có vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên, điều kiện tiếp cận và cập nhật thông tin của các đại biểu HĐND còn nhiều bất cập, nhiều cuộc giám sát của HĐND còn thiếu thông tin, chỉ chủ yếu nghe báo cáo của cơ quan là đối tượng được giám sát sau đó đoàn giám sát kết luận, đánh giá. Từ đó có những cuộc giám sát chưa chỉ ra được đúng, sai và kiến nghị sâu sắc, thuyết phục… Mặt khác đa số đại biểu HĐND là Lãnh đạo chủ chốt của các sở, ngành và UBND các huyện, thị nên rất bận rộn với công tác chuyên môn, thời gian dành cho hoạt động của HĐND còn ít.   
          
CHƯƠNG III
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIÁM SÁT CỦA HĐND TỈNH ĐẮK NÔNG NHIỆM KỲ 2011 – 2016
 
            Nhiệm kỳ 2011 – 2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Nông gồm có 50 đại biểu, trong đó: trình độ chuyên môn nghiệp vụ: thạc sỹ là 06 người chiếm 12%, đại học là 37 người chiếm 74%, cao đẳng là 03 người chiếm 1,5%, trung cấp là 03 người chiếm 1,5%, sơ cấp là 01 người chiếm 0,5%; Trình độ lý luận chính trị: cao cấp lý luận chính trị có 35 người chiếm 70%, cử nhân chính trị có 07 người chiếm 3,5%, trung cấp chính trị có 03 người chiếm 1,5%. Đại biểu HĐND tỉnh là người đồng bào dân tộc thiểu số có 11 người chiếm 22%, đại biểu nhân dân là tỉnh uỷ viên có 21 người chiếm 42%.
            1. Hoàn thiện cơ sở pháp lý về hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh
            Đây là yếu tố đầu tiên tác động rất lớn đến hiệu quả giám sát của HĐND, bởi các quy định của pháp luật về giám sát là cơ sở pháp lý cho HĐND thực hiện quyền năng của mình. Nếu luật không quy định cụ thể về thủ tục, trình tự, nhiệm vụ, quyền hạn.... của các đối tượng liên quan đến hoạt động giám sát thì việc ghi nhận chức năng giám sát của HĐND trong Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật khác cũng chỉ là hình thức. Điều này đã được chứng minh trong thực tiễn phát triển của luật tổ chức HĐND và UBND (từ năm 2003, Luật Tổ chức HĐND và UBND đã cụ thể, chi tiết hoá chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân nên trong thời gian vừa qua đã đem lại nhiều kết quả đáng kể).
            Thứ nhất, cần có quy định tăng thêm hoạt động phí cho đại biểu và có những chính sách để khuyến khích các đại biểu không ngừng nâng cao trình độ, giữ vững phẩm chất của người đại biểu nhân dân, tránh được những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường.
            Thứ hai, luật cần phải quy định chi tiết về chế độ báo cáo bao gồm: báo cáo thường kỳ hàng năm trong kỳ họp HĐND tỉnh, báo cáo thường kỳ hàng tháng, hàng qúi cho Thường trực HĐND tỉnh; báo cáo khi có sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội tác động ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội trên địa bàn tỉnh hoặc khi HĐND tỉnh yêu cầu hoặc Thường trực HĐND tỉnh yêu cầu và có thể là do chính các cơ quan Nhà nước yêu cầu theo qui định của pháp luật nội dung báo cáo. Nội dung báo cáo, phải có sự phân  tích tình hình, kết quả hoạt động cụ thể, ưu điểm và khuyết điểm, nguyên nhân chủ quan và khách quan,trách nhiệm cụ thể thuộc về ai, phương hướng khắc phục cụ thể. Trong đó nhất thiết phải có mục chi tiêu  khoản ngân sách mà Nhà nước đã cấp cho cơ quan đó hoạt động. Đồng thời, để đảm bảo tính trang nghiêm, đầy đủ và chính xác của một báo cáo cần phải có quy định cụ thể về biểu mẫu báo cáo. Cuối cùng, để công tác giám sát được thực hiện tốt cần qui định về thời gian nộp báo cáo một cách hợp lý, nhất là báo cáo thường kỳ trong kỳ họp HĐND tỉnh.
Thứ ba,  pháp luật cần qui định rõ ràng về căn cứ để HĐND tỉnh ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn. Căn cứ vào nội dung chất vấn cần quy định vấn đề nào bắt buộc phải chất vấn bằng văn bản, vấn đề nào có thể vừa bằng văn bản vừa bằng lời nói. Đồng thời, qui định những biện pháp cụ thể để giải quyết những vấn đề của chất vấn sau kỳ họp như ai là người có thẩm quyền kiểm tra việc giải quyết này, cách thức tiến hành ra sao, trách nhiệm của người bị chất vấn khi không thực hiện những gì mình đã hứa, các chế tài áp dụng khi không thực hiện các nội dung của Đoàn giám sát………
            2. Kiện toàn bộ máy tổ chức hoạt động của HĐND tỉnh, nâng cao chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân.
            Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực ở địa phương, về mặt tổ chức lâu nay vẫn chưa được chủ trọng cả về lý luận và thực tiễn, đại biểu HĐND chủ yếu hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm nên ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của HĐND. Để thực hiện tốt chức năng của mình, đặc biệt là chức năng giám sát, đòi hỏi Hội đồng nhân dân phải có bộ máy tổ chức đủ mạnh và năng đông, chất lượng các đại biểu HĐND ngày càng được nâng cao. Phải đảm bảo sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng trong quá trình trong quá trình chuẩn bị nhân sự của HĐND; chỉ đạo chặt chẽ khâu hiệp thương, lựa chọn giới thiệu những đại biểu đủ đức, đủ tài, được rèn luyện, thử thách trong thực tế và có khả năng tiếp thu, vận dụng đường lối, chính sách, pháp luật vào thực tiễn cuộc sống; có năng lực, trình độ để thực hiện nhiệm vụ đại biểu theo luật định. Cần tăng đại biểu chuyên trách và tăng số đại biểu ở khối cơ quan Đảng, đoàn thể, các doanh nghiệp, đại biểu là quần chúng.
            3. Nâng cao năng lực giám sát của đại biểu HĐND tỉnh
            Đại biểu Hội đồng nhân dân phải gắn bó với cử tri, vừa lắng nghe và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng của cử tri, vừa giám sát, vừa tác động và đôn đốc các cơ quan có thẩm quyền giải quyết thoả đáng các ý kiến, nguyện vọng của cử tri. Hội đồng nhân dân phải có trách nhiệm nâng cao năng lực và trách nhiệm cho đại biểu Hội đồng nhân dân như tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng cho đại biểu kỹ năng tự giám sát và tham gia Đoàn giám sát; xác định cách tiếp cận để nghiên cứu vấn đề cần giám sát; kinh nghiệm nêu vấn đề, đặt câu hỏi hợp lý với cơ quan hữu quan để làm rõ các nội dung cần xem xét; thảo luận và đi đến kết luận giám sát; xây dựng kiến nghị giám sát và theo dõi kết quả thực hiện yêu cầu của Đoàn giám sát.
            Tuy nhiên, để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, đại biểu HĐND phải thường xuyên tham gia các lớp tập húân về kỹ năng giám sát và tự nghiên cứu, nâng cao nhận thức, hiểu biết đầy đủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND; năng động sáng tạo trong thực hiện quy định của pháp luật, trong hoạt động thực tiễn. Các đại biểu hoạt động kiêm nhiệm cũng cần phát huy tính chủ động, không chỉ hoạt động trong kỳ họp HĐND mà cả giữa hai kỳ họp, khi tiếp xúc cử tri… không thụ động chờ chỉ đạo của Thường trực, các ban HĐND. Từng đại biểu phải tạo được sự mến mộ, tin tưởng đối với cử tri...
4. Nâng cao năng lực giám sát của Thường trực HĐND tỉnh:
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả giám sát của HĐND, cần phải coi công tác kiểm tra, giám sát của Thường trực HĐND và các Ban của HĐND là một việc làm thường xuyên. Thường trực HĐND tỉnh phải chủ động, sáng tạo tìm ra biện pháp hợp lý để đẩy mạnh hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân. Cần điều hoà, phối hợp với các Ban cho hợp lý trong công tác giám sát, trong việc tiếp công dân nhằm đảm bảo cho pháp luật và nghị quyết của Hội đồng nhân dân được thực hiện nghiêm chỉnh, góp phần tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc cho cơ sở, động viên, khuyến khích cơ sở phát huy những mặt tốt, và chỉ ra được những sai sót cần kịp thời sửa chữa. Từ đó mà tạo được mối quan hệ tốt và gắn bó giữa Hội đồng nhân dân và các đơn vị được giám sát.
5. Nâng cao năng lực giám sát của các Ban của HĐND tỉnh:
Căn cứ vào Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tại mỗi kỳ họp và chương trình công tác của Hội đồng nhân dân giữa hai kỳ họp, Thường trực Hội đồng nhân dân, các ban chủ động xây dựng chương trình công tác, trong đó có kế hoạch giám sát, xác định nội dung chi tiết nhằm vào các lĩnh vực, các ngành kinh tế, các vấn đề trọng điểm, vấn đề bức xúc, thời gian giám sát... sau đó gửi chương trình giám sát đến các cơ quan, đơn vị được giám sát và các cơ quan tham gia giám sát để chuẩn bị trước. Trong hoạt động giám sát, các ban cần được sự tạo điều kiện về mọi mặt của Thường trực Hội đồng nhân dân, nhất là trong việc điều hoà, phối hợp hoạt động giữa các Ban, phân công các Ban theo dõi kiểm tra, giám sát đối với các vấn đề bức xúc diễn ra ở địa phương. Đồng thời, nên có sự phối hợp giữa Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân và Mặt trận Tổ quốc và một số cơ quan hữu quan. Việc giám sát có thể yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân đến báo cáo, hoặc tổ chức Đoàn đi giám sát, khảo sát tình hình. Tuy nhiên, phải hết sức tránh tổ chức Đoàn cồng kềnh, rườm rà, gây khó khăn cho các cơ quan, tổ chức được giám sát. Khi tiến hành giám sát, tuỳ theo chuyên đề có thể giám sát tại cơ quan tổng hợp trước, sau đó đi sâu từng đơn vị, từng địa phương cụ thể hoặc ngược lại. Qua giám sát, các Ban góp ý, bổ sung thông tin cho các đơn vị được giám sát về các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Sau mỗi lần giám sát, phải có báo cáo, có kiến nghị các giải pháp để thực hiện cho Uỷ ban nhân dân và các ngành liên quan, các đơn vị được giám sát tiếp thu, giải quyết. Hoạt động này là bảo đảm nâng cao hiệu lực hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân.
            6. Năng cao năng lực hoạt động của bộ máy giúp giúp việc cho HĐND tỉnh
            Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh là cơ quan trực tiếp tham mưu và tổ chức phục vụ hoạt động cho Thường trực HĐND, các ban của HĐND và các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh. Để đảm bảo hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân nói chung, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân nói riêng cần phải nâng cao năng lực hoạt động của bộ máy tổ chức Văn phòng. Cụ thể: thường xuyên kiện toàn bộ máy tổ chức theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; trình độ chuyên môn nghiệp vụ đội ngũ CBCC ngày càng được nâng cao; có nhiều chính sách để thu hút người tài; có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng hàng năm; tạo mọi điều kiện tốt về cơ sở vật chất, trang thiết bị....để CBCC làm việc; quan tâm đến đời sống vật chất cũng như tinh thần của CBCC để họ yên tâm làm việc và cống hiến lâu dài cho sự phát triển của tổ chức.......  
            7. Nâng cao chất lượng thực hiện các hình thức giám sát của HĐND tỉnh Đắk Nông:
            Ngoài việc giám sát của HĐND tại các kỳ họp thông qua các hoạt động xem xét các báo cáo của Thường trực HĐND, UBND, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp trình tại kỳ họp; chất vấn và trả lời chất vấn; xem xét văn bản quy phạm pháp luật; bỏ phiếu tín nhiệm v.v… Hoạt động này còn thông qua các hoạt động giám sát cụ thể của Thường trực HĐND, của các Ban, các đại biểu HĐND theo phương thức giám sát chung hoặc giám sát chuyên đề. Cụ thể:
            Nâng cao chất lượng thảo luận  tại các phiên họp toàn thể. Đây là hình thức không thể thiếu đối với mỗi kỳ họp Hội đồng nhân dân, vì Hội đồng nhân dân làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số. Việc thảo luận các báo cáo tại phiên họp toàn thể sẽ giúp cho các đại biểu Hội đồng nhân dân tập trung ý chí, tranh luận và thảo luận các vấn đề, nhất là những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, nghe các cơ quan trả lời về các kiến nghị của cử tri. Trên cơ sở thông tin đã được phân tích, đại biểu sẽ quyết định chính xác các vấn đề đặt ra.
            Tăng cường quyền chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân: Chất vấn và việc trả lời chất vấn đã trở thành một hoạt động bình thường tại kỳ họp Hội đồng nhân dân. Các ý kiến đặt ra phải trên cơ sở khảo sát thực tế, nguyện vọng chính đáng của nhân dân hoặc dựa trên cơ sở khảo sát việc thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân. Để bảo đảm việc thực hiện chất vấn có hiệu quả, phải hạn chế những chất vấn mang tính kiến nghị, thông tin và sự việc không rõ; những người bị chất vấn phải trả lời rõ ràng, cụ thể, có tính thuyết phục, không vòng vo, né tránh các nội dung chất vấn, không để vụ việc kéo dài mà phải có biện pháp khắc phục vụ
            8. Tăng cường phối hợp giám sát giữa các cấp, các ngành và các tổ chức đoàn thể
            Tăng cuờng hơn nữa sự phối hợp hoạt động giám sát giữa Đoàn đại biểu Quốc hội với HĐND và các cơ quan, đoàn thể ở địa phương. Tích cực tham gia các Đoàn giám sát của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, các uỷ ban của Quốc hội đến giám sát tại địa phương và việc tham gia hoạt động giám sát, trong việc tiếp xúc với cử tri sẽ tạo điều kiện cho các đại biểu Hội đồng nhân dân để trao đổi thông tin về kiến thức pháp luật, về tình hình chấp hành pháp luật nói chung, cũng như trao đổi về kinh nghiệm trong hoạt động nhằm góp phần nâng cao chất lượng giám sát của Hội đồng nhân dân;
            9. Các điều kiện phục vụ cho HĐND trong hoạt động giám sát
            Bảo đảm thông tin, kinh phí và điều kiện vật chất cho hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân, của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân và các đại biểu Hội đồng nhân dân để nâng cao chất lượng của các hoạt động giám sát.
 
KẾT LUẬN
 
            Giám sát là một trong những chức năng chủ yếu của Hội đồng nhân dân. Thực tiễn hoạt động cho thấy, trong nhiệm kỳ vừa qua HĐND tỉnh Đắk Nông đã bám sát các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cùng sự nỗ lực phấn đấu của các đại biểu HĐND tỉnh, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND, bộ máy giúp việc cho hoạt động của HĐND, sự phối hợp tốt với các cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan trên địa bàn tỉnh đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong hoạt động của HĐND tỉnh nói chung và hoạt động giám sát nói riêng. Kết quả giám sát của HĐND đã có tác dụng tích cực trong việc giải quyết các vấn đề bức xúc tại địa phương. Tuy nhiên, bên cạnh đó hoạt động giám sát vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định làm cho Hội đồng nhân dân chưa thực sự phát huy vai trò là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương.
 
            Trong phạm vi đề tài nghiên cứu khoa học “Nâng cao hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Nông nhiệm kỳ 2011 – 2016” đã phần nào chỉ ra một số hạn chế, bất cập trong hoạt động giám sát của HĐND tỉnh trong nhiệm kỳ 2004 – 2011, đồng thời, mạnh dạn đưa ra một số giải pháp, kiến nghị, đề xuất để hoạt động giám sát thực sự có hiệu quả, Hội đồng nhân dân thực sự là cơ quan đại diện cho ý chí, quyền lực và nguyện vọng của nhân dân trên địa bàn tỉnh. Từ đó, củng cố niềm tin, thu hút sự quan tâm, theo dõi và tích cực tham gia của nhân dân vào hoạt động giám sát của HĐND, góp phần làm cho hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh ngày càng có chất lượng hơn, đảm bảo việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật và nghị quyết của HĐND ngày càng tốt hơn.