Skip Ribbon Commands
Skip to main content
 

​ GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HUYỆN TUY ĐỨC​



ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN


1. Vị trí địa lý: Huyện Tuy Đức nằm ở phía Tây của tỉnh Đắk Nông với tổng diện tích tự nhiên là 112.219 ha (theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2010), chiếm 17,22% diện tích tỉnh Đắk Nông; dân số 40.428 người (niên giám thống kê năm 2010), phân bố trên địa bàn 06 xã. Địa giới hành chính được xác định như sau: Phía Bắc giáp Vương quốc Campuchia; Phía Nam giáp huyện Đắk R’lấp; Phía Đông giáp huyện Đắk Song; Phía Tây giáp tỉnh Bình Phước.


Diện tích, dân số, mật độ dân số huyện Tuy Đức năm 2010:


STT

Đơn vị hành chính

Diện tích (ha)

Dân số

Mật độ dân số (người/km2)

(người)

 

Tổng số

112.219

40.428

35,97

1

Xã Quảng Trực

56.301

4.028

7,15

2

Xã Đắk Buk So

8.310

8.395

101,02

3

Xã Quảng Tâm

6.999

2.574

36,78

4

Xã Đắk R'Tih

11.249

6.075

54,00

5

Xã Đắk Ngo

16.624

8.549

51,43

6

Xã Quảng Tân

12.735

10.807

84,86


(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Tuy Đức năm 2010)

 

Là huyện biên giới, cách trung tâm tỉnh lỵ Đắk Nông khoảng 50 km, có Quốc lộ 14C, tỉnh lộ 686, 681 chạy qua, cửa khẩu Buk Prăng tiếp giáp với biên giới Campuchia,… là những điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế, nhất là thương mại và du lịch phát triển nhanh, bền vững theo hướng sản xuất hàng hóa, phong phú, đa dạng theo thế mạnh đặc thù của địa phương.

 

2. Địa hình: Nằm ở cao nguyên bazan cổ Đắk Nông - Đắk Mil, độ cao trung bình so với mặt nước biển khoảng 400 m tại khu vực phía Tây Nam và trên 900 m tại khu vực Đông Bắc; núi cao nhất ở huyện là đỉnh Yor Goun Glaita (trên 950 m) thuộc xã Đắk Buk So. Địa hình của Tuy Đức nhìn chung khá phức tạp và bị chia cắt mạnh, thấp dần theo hướng Đông Bắc - Tây Nam và chia thành 3 dạng địa hình chính như sau:


- Dạng địa hình cao nguyên Bazan: Phân bố ở khu vực phía Bắc và Tây Bắc của huyện, có độ cao dao động từ 700 m - 900 m thuộc địa bàn các xã Quảng Trực, Quảng Tân, Đắk Buk So, Quảng Tâm và Đắk R’tih. Phần đỉnh cao nguyên tương đối ít dốc, song phần sườn rất dốc và chia cắt mạnh. Thảm thực vật chủ yếu là thảm cỏ, cây bụi, rừng lồ ô, tre nứa,...

 

- Dạng địa hình gò, đồi núi thấp: Phân bố ở phía Nam và Tây Nam của huyện, thuộc phần còn lại của xã Quảng Trực và toàn bộ xã Đắk Ngo. Độ cao trung bình dao động từ 400 m - 700 m, độ dốc dưới 1500. Thảm thực vật chủ yếu là cây lâu năm, lúa nước, rừng trồng xen lẫn các trảng cỏ.

 

- Dạng địa hình thung lũng bồi tụ: Phân bố ven các dòng sông suối nhỏ hẹp, với độ dốc dao động từ 00 - 80, được hình thành chủ yếu do quá trình bồi tụ mẫu chất phù sa, dốc tụ. Thảm thực vật chủ yếu cây nông nghiệp ngắn ngày..


Khí hậu: Nằm trong vùng ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam và mang tính chất khí hậu cao nguyên nhiệt đới ẩm với 2 mùa rõ rệt trong năm là mùa mưa và mùa khô; mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, tập trung tới 90% lượng mưa hàng năm, mùa khô từ tháng 11 đến cuối tháng 3 năm sau, có lượng mưa không đáng kể.

 

- Nhiệt độ: Do Tuy Đức nằm trong vùng có địa hình cao, nhiệt độ trong năm và trong ngày biến động khá lớn, trung bình trong năm là 22,30C, tháng cao nhất 35,50C (tháng 4), tháng thấp nhất 14,00C (tháng 2); tổng tích ôn tương đối lớn (khoảng 7.2000C/năm), thuận lợi cho phát triển các loại cây trồng nhiệt đới.

 

- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình trong năm khoảng 2.300 mm/năm, tập trung vào mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 (chủ yếu vào các tháng 7, 8, 9), chiếm 90% tổng lượng mưa cả năm. Vào mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) lượng mưa nhỏ, chỉ chiếm khoảng 10% tổng lượng mưa của cả năm, đã gây không ít khó khăn trong việc cung cấp, điều tiết nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp cũng như sinh hoạt.

 

- Nắng: Số giờ nắng trung bình dao động từ 1.600 – 2.300 giờ/năm, 9 - 10 giờ/ngày vào mùa khô và 7 - 8 giờ/ngày vào mùa mưa.

 

- Lượng bốc hơi, độ ẩm: Lượng bốc hơi trung bình 14,6 – 15,7 mm/ngày vào mùa khô và 1,5 – 1,7 mm/ngày vào mùa mưa; độ ẩm trung bình hàng năm khoảng 86,0%, độ ẩm cao nhất là tháng 8 (92,0%), độ ẩm thấp nhất là tháng 2, 3 (77,0%).

 

- Chế độ gió: Tuy Đức chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính là gió mùa Tây Nam thổi từ tháng 4 đến tháng 10 và gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau; tốc độ gió trung bình mùa mưa 2,4 – 5,4 m/s, mùa khô gió cấp IV-V. Địa bàn huyện hầu như không có bão, song những năm gần đây thường xảy ra lốc xoáy.

Nhìn chung, đặc điểm điều kiện khí hậu của huyện khá thuận lợi cho phát triển đa dạng các loại cây trồng nhiệt đới, đặc biệt là các loại cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày và cây thực phẩm có giá trị kinh tế. Tuy nhiên, do lượng mưa phân bố theo mùa, nhiều nắng và gió, địa hình dốc, lượng bốc hơi cao, thiếu nước nghiêm trọng vào mùa khô đã ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống dân cư.

 

* Chế độ thủy văn và nguồn nước

 Hệ thống sông suối của Tuy Đức bắt nguồn từ phía Đông Bắc chảy về phía Tây  Nam hoặc về phía Nam. Các sông, suối khá nhiều (mật độ sông suối bình quân đạt 1,06 km/km2), nhưng đa phần có lưu vực hẹp, độ dốc lòng sông lớn, lưu lượng dòng chảy phụ thuộc nhiều vào chế độ mưa. Các sông, suối chính trên địa bàn huyện, gồm:


- Suối Đắk R’tih bắt nguồn từ xã Đắk Buk So đến hết xã Quảng Tân, diện tích lưu vực là 200,2 km2 với tổng chiều dài suối chính và các nhánh khoảng 194 km và mật độ sông suối là 0,96 km/ km2.


- Sông Đắk R’Lấp bắt nguồn từ xã Đắk R’Tih qua các xã Quảng Tân, Quảng Tín, với diện tích lưu vực 277,5 km2, tổng chiều dài sông chính và các nhánh khoảng 250 km và mật độ sông suối là 1,11 km/ km2.


- Suối Đắk Buk So chảy theo ranh giới Tuy Đức với huyện Đắk Song, thuộc các xã Đắk Buk So, Đắk R’tih, Quảng Tân với diện tích lưu vực khoảng 98 km2, tổng chiều dài suối chính và các nhánh khoảng 112 km và mật độ sông suối là 1,14 km/km2.


- Suối Đắk G'lun bắt nguồn từ ranh giới giữa huyện Tuy Đức với Campuchia và huyện Đắk Song, thuộc các xã Đắk Buk So, Quảng Trực và Quảng Tín, với diện tích lưu vực là 197 km2 với tổng chiều dài suối chính và các nhánh khoảng 208 km và mật độ sông suối là 1,1 km/km2.


- Suối Đắk Huýt thuộc xã Quảng Trực, với diện tích lưu vực là 168,1 km2 với tổng chiều dài suối chính và các nhánh khoảng 149,7 km và mật độ sông suối là 0,89 km/km2.


- Suối Đắk R’keh, thuộc xã Quảng Trực, diện tích lưu vực là 178 km2 với tổng chiều dài suối chính và các nhánh khoảng 188 km và mật độ sông suối là 1,06 km/km2.


- Suối Đắk Yeul, thuộc xã Quảng Trực, diện tích lưu vực là 143 km2 với tổng chiều dài suối chính và các nhánh khoảng 188 km và mật độ sông suối là 1,31 km/km2.


Nhìn chung, hệ thống sông suối trên địa bàn huyện Tuy Đức được nuôi dưỡng bởi nguồn nước mưa tương đối dồi dào với tổng lượng mưa trong năm vào khoảng 2,58 tỷ m3. Lượng mưa này ngoài phần tổn thất do bốc hơi sẽ là nguồn cung cấp nước ngầm và hình thành dòng chảy mặt ở các sông suối. Tuy nhiên, nguồn nước này tập trung chủ yếu vào mùa mưa, khả năng dự trữ từ ao hồ tự nhiên không đáng kể, nên giải pháp cơ bản để giải quyết nhu cầu nước cho sản xuất và sinh hoạt của dân cư trong mùa khô trên địa bàn huyện trong giai đoạn tới là xây dựng các hồ chứa, đập dâng và hệ thống thủy lợi liên hoàn để điều tiết nguồn nước mặt.



TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN


1. Tài nguyên đất

Tài nguyên đất trên địa bàn huyện tuy không có nhiều nhóm đất, nhưng trong mỗi nhóm đất có khá nhiều loại đất. Theo phương pháp phân loại đất của FAO-UNESCO, tài nguyên đất của huyện được chia thành 2 nhóm đất chính với 8 đơn vị đất. Cụ thể:


a. Nhóm đất mới biến đổi: Diện tích 2.471,42 ha chiếm 2,2% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở các vùng có địa hình thấp ven các sông suối ngập cục bộ theo thời gian, quá trình tích tụ sắt nhôm diễn ra khá mạnh, đất thường có phản ứng chua đến rất chua. Nhóm đất này được phân thành các loại đất sau:

- Đất mới biến đổi giàu mùn (CM.hu): Có diện tích 2.120,32 ha, chiếm 85,79% diện tích nhóm đất mới biến đổi. Loại đất này thích nghi cho việc trồng lúa, lúa - màu, màu. Phân bố ở các xã Quảng Trực, Quảng Tâm, Quảng Tân và Đắk R'tih.

- Đất mới biến đổi đọng nước, sỏi sạn sâu (CM.st.sk2): Có diện tích 315,10 ha, chiếm 1,89% diện tích nhóm đất mới biến đổi. Loại đất này thích hợp cho việc trồng lúa, lúa - màu, màu và được phân bố ở xã Đắk Buk So.

 

Diện tích, cơ cấu các loại đất trên địa bàn huyện Tuy Đức:​


STT

Loại đất

Ký hiệu

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

I

Nhóm đất mới biến đổi

 

2.471,42

2,20

1

Đất mới biến đổi giàu mùn

CM.hu

2.120,32

1,89

2

Đất mới biến đổi đọng nước, sỏi sạn su

CM.st.sk

351,10

0,31

II

Nhóm đất đỏ

 

108.787,05

96,94

1

Đất đỏ tầng mỏng

Fđ.tm

1.619,75

1,44

2

Đất nâu vàng, chua

Fđ.c.xa

1.917,43

1,71

3

Đất đỏ chua, nghèo kiềm

Fđ.c.vt

219,01

0,20

4

Đất giàu mùn, nâu đỏ

Fđ.hu.r

10.369,24

9,24

5

Đất đỏ sỏi sạn nông, có tầng loang lỗ

Fđ.sk1.fr

3.576,34

3,19

6

Đất đỏ chua, rất nghèo kiềm

Fđ.c.gr

91.085,28

81,17

III

Đất sông suối, hồ đập

 

960,53

0,86

 

Tổng diện tích

 

112.219,00

100,00

 

​(Nguồn: Phân viện Quy hoạch &Thiết kế nông nghiệp)


b. Nhóm đất đỏ: Diện tích lớn nhất với 108.787,05 ha, chiếm 96,94% tổng diện tích tự nhiên, được chia thành 6 loại đất sau:

- Đất đỏ tầng mỏng (Fđ.tm): Có diện tích 1.619,75 ha, chiếm 1,49% diện tích nhóm đất đỏ, phân bố chủ yếu ở 3 xã là Đắk Buk So, Quảng Tâm và Đắk R'tih, tại những khu vực có độ dốc trung bình từ 80 - 200, không bị ngập trong mùa mưa nên thích hợp cho việc trồng lúa, lúa - màu, màu, cây ăn quả và trồng rừng.

- Đất nâu vàng, chua (Fđ.c.xa): Diện tích 1.917,43 ha, chiếm 1,76% diện tích nhóm đất đỏ, phân bố chủ yếu phân bố chủ yếu ở xã Quảng Tân và một phần diện tích nhỏ ở Đắk R'tih, Đắk Ngo, trên dạng địa hình đồi cao hoặc sườn dốc, độ dốc trung bình từ 80 - 150, không bị ngập trong mùa mưa, nên thích nghi cho việc trồng màu, điều, cây ăn quả và trồng rừng.

- Đất đỏ chua, nghèo kiềm (Fđ.c.vt): Có diện tích 219,01 ha, chiếm 0,20% diện tích tự nhiên, phân bố ở xã Quảng Trực, trên địa hình đồi thấp có độ dốc trung bình từ 80 - 150, độ dày tâng đất lớn hơn 100 cm, không bị ngập trong mùa mưa, nên loại đất này thích nghi cho việc trồng màu, cà phê, điều, cây ăn quả, cao su và trồng rừng.

- Đất giàu mùn, nâu đỏ (Fđ.hu.r): Có diện tích 10.369,24 ha, chiếm 9,53% diện tích nhóm đất nâu đỏ, phân bố tập trung ở xã Quảng Trực và một phần nhỏ diện tích ở Đắk Ngo, thuộc khu vực sườn đồi cao và dốc, không bị ngập trong mùa mưa, nên thích nghi cho việc trồng màu, cà phê, điều, tiêu, cây ăn quả, cao su và trồng rừng.

- Đất sỏi đỏ sạn nông, có tầng loang lỗ (Fđ.sk1.fr): Có diện tích 3.576,34 ha, chiếm 3,29% diện tích nhóm đất nâu đỏ, phân bố ở xã Quảng Trực và Đắk Buk So, thuộc khu vực sườn đồi với độ dốc trung bình từ 30 - 150, không bị ngập trong mùa mưa, nên thích hợp cho việc trồng màu, cà phê, điều, cây ăn quả, cao su và trồng rừng.

- Đất đỏ chua, rất nghèo kiềm (Fđ.c.gr): Có diện tích lớn nhất với 91.085,58 ha, chiếm 83,73% diện tích nhóm đất nâu đỏ, phân bố ở tất cả các xã trên địa bàn huyện.


2. Tài nguyên nước


a. Nguồn nước mặt

Toàn bộ địa bàn huyện thuộc lưu vực của 2 sông, khu vực phía Tây thuộc lưu vực sông Bé và khu vực phía Đông thuộc lưu vực sông Đồng Nai thượng (cả hai con sông này đều là chi lưu của sông Đồng Nai).

Vùng phía Tây thuộc lưu vực sông Bé có các suối chính như: Đắk R’keh với diện tích lưu vực 150 km2, Đắk Yeul có diện tích lưu vực 145 km2, Đắk G'lun với diện tích lưu vực  200 km2, Đắk R’Lấp với diện tích lưu vực 210 km2.

Vùng phía Đông thuộc lưu vực sông Đồng Nai thượng nguồn có các suối chính như: Đắk R’tih với diện tích lưu vực 738 km2, Đắk R’keh có diện tích lưu vực 195 km2.

Nhìn chung, các suối chính trên địa bàn huyện có dòng chảy khá lớn, bình quân hàng năm khoảng 36 - 40 l/s.km2, dòng chảy kiệt dao động từ 6 - 10 l/s.km2. Tuy nhiên, phân bố dòng chảy theo thời gian không đều, mùa kiệt kéo dài khoảng 6 tháng từ tháng 12 đến 4 năm sau, lượng dòng chảy chỉ chiếm 14% tổng lượng chảy năm. Trong khi đó, lượng dòng chảy trong 6 tháng mùa lũ chiếm đến 86% tổng lượng dòng chảy năm. Để đảm bảo điều hòa, khai thác có hiệu quả nguồn nước mặt đòi hỏi cần phải tăng cường đầu tư xây dựng hệ thống thủy lợi, tìm các giải pháp tính toán cân bằng để tiếp nước hỗ trợ giữa các lưu vực; xây dựng các biện pháp công trình và phi công trình phù hợp với điều kiện nguồn nước của từng vùng, sử dụng tiết kiệm tài nguyên nước.


b. Nguồn nước ngầm

Theo tài liệu địa chất và các mũi khoan thăm dò trên địa bàn huyện cho thấy nguồn nước ngầm có 2 dạng là nước lỗ hổng và khe nứt.

- Nước lỗ hổng: Nằm ở tầng trầm tích bở rời, tầng chứa nước phân bố không liên tục dọc theo thung lũng các suối. Chiều dày trầm tích bở rời từ 5 - 10 m, nước tĩnh cách mặt đất 2 - 3 m. Do diện phân bố hẹp, chiều dày chứa nước mỏng nên tầng chứa nước này chỉ có thể xây dựng giếng đào cấp nước sinh hoạt cho các hộ đơn lẻ.

- Nước khe nứt: Nằm ở tầng phun trào bazan Phiscen - Holocen phân bố hầu hết các vùng trong huyện. Thành tạo phun trào này có chiều dày từ 200 – 300 m, trung bình khoảng 200 m, giảm dần từ Bắc xuống Nam. Mức nước tĩnh trong vùng phụ thuộc bề mặt địa hình biến đổi từ 1,26 m đến 26 m, lưu lượng các lỗ khoan thay đổi từ Q = 0,25 - 4,0 l/s. Tầng chứa nước này phân bố rộng, lượng chứa nước đạt mức trung bình, có ý nghĩa trong việc cấp nước sản xuất và sinh hoạt trong tương lai.

 

3. Tài nguyên rừng

Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2010, trên địa bàn huyện Tuy Đức có 55.708,8 ha đất rừng, chiếm 49,64% tổng diện tích tự nhiên. Trong đó, diện tích rừng sản xuất 45.745,23 ha, chiếm 40,76% diện tích tự nhiên; rừng phòng hộ có 9.963,57 ha, chiếm 8,88% diện tích tự nhiên. Thảm thực vật rừng tự nhiên của huyện khá đa dạng và phong phú với nhiều loại gỗ quý như: Cẩm Lai, Giáng Hương, Gõ Đỏ, Dầu Rái, Lá Buông,... Rừng trồng chủ yếu là Keo Lai, Bạch Đàn, Xà Cừ và các loại cây chịu hạn khác. Nhìn chung, tổng trữ lượng rừng còn khá lớn, song đang bị suy giảm nhanh chóng do tình trạng chặt phá, lấn chiếm rừng diễn biến ngày càng phức tạp.


4. Tài nguyên khoáng sản và vật liệu xây dựng

Theo quy hoạch khoáng sản tỉnh Đắk Nông đến năm 2020 cho thấy, huyện có tiềm năng rất lớn trong khai thác các loại nguyên liệu cho sản xuất vật liệu xây dựng như khai thác đất bồi nền; puzơlan làm nguyên liệu cho xi măng, gạch ceramic; đá bazan bọt làm nguyên liệu sản xuất gạch ốp lát cách âm, cách nhiệt, sợi chịu nhiệt,…


5. Tài nguyên nhân văn

 Trải qua bao thế hệ với lịch sử đấu tranh, truyền thống cách mạng và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc, mảnh đất Tuy Đức đã sản sinh và nuôi dưỡng nhiều người con ưu tú viết nên trang sử quê hương rạng rỡ với truyền thống văn hoá đặc sắc gắn liền với truyền thống anh dũng, kiên cường trong đấu tranh cách mạng. Ngày nay trên địa bàn huyện còn để lại nhiều di tích lịch sử nổi tiếng như: khu di tích lịch sử Anh hùng dân tộc M’nông Nơ Trang Lơng; di tích đồn Bu Mêra; Bia tưởng niệm Henry Maitre; làng Bu Nơr A,B quê hương của nghĩa quân, cũng là nơi Henry Maitre bị nghĩa quân tiêu diệt vào năm 1914,...

Cộng đồng dân cư trên địa bàn huyện gồm 16 dân tộc anh em, trong đó người Kinh chiếm đa số còn lại là người dân tộc thiểu số như: người M'nông, Tày, Ê Đê, Nùng, Dao, Thái... chung sống đoàn kết gắn bó, cần cù chịu khó, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, với những nét phong tục, tín ngưỡng, lễ hội, tập quán sinh hoạt, văn hoá đặc sắc riêng... làm đa dạng và phong phú đời sống văn hóa sinh hoạt cộng đồng, cùng những thành tựu đạt được trong lao động, sản xuất,... đã đánh dấu sự nỗ lực vươn lên không ngừng của người dân xây dựng nên mảnh đất này. Phát huy truyền thống văn hiến, cách mạng, niềm tự hào quê hương; ý chí tự lực tự cường, khắc phục khó khăn; kế thừa và phát huy những kinh nghiệm, thành quả đạt được sẽ là tiền đề và điều kiện thuận lợi thúc đẩy cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới.



LỊCH SỬ, TRUYỀN THỐNG, VĂN HÓA, DI TÍCH, THẮNG CẢNH​


1. Di tích Lịch sử: 

Khu di tích lịch sử Anh hùng dân tộc M’nông Nơ Trang Lơng: Hiện nay, đang triển khai xây dựng dự án phục dựng di tích này gồm các hạng mục như: Nhà bảo tàng trưng bày những hiện vật, hình ảnh của nghĩa quân và cuộc kháng chiến; Di tích đồn Bu Mêra, Bia tưởng niệm Henry Maitre do thực dân Pháp xây dựng năm 1935 tại ngã 3 biên giới (Nam kỳ, Cao Miên và Cao Nguyên Trung phần); làng Bu Nơr, quê hương của nghĩa quân, cũng là nơi Henry Maitre bị nghĩa quân tiêu diệt vào năm 1914. Đối với khu di tích Bon Bu Nor A và khu di tích Bon Bu Nor B sẽ được phục dựng theo nguyên mẫu làng cổ M’nông và có tính sáng tạo như là một bảo tàng sống. Cụ thể, sẽ xây dựng khoảng từ 20 - 30 ngôi nhà truyền thống của đồng bào M’nông, bằng các vật liệu là gỗ, tre nứa, tranh. Khi khu di tích lịch sử hoàn thiện và đưa vào sử dụng sẽ là điểm du lịch tham quan hấp dẫn, đồng thời là địa điểm giáo dục truyền thống, điểm bảo tồn lưu giữ những giá trị vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc.


2. Du lịch - Danh lam thắng cảnh

Tuy Đức có tiềm năng rất lớn cho phát triển du lịch với những cánh rừng già hoang sơ, núi non hùng vĩ, thác nước nên thơ, khí hậu lại ôn hoà, mát mẻ. Ngoài các tiềm năng du lịch tự nhiên, huyện còn có tiềm năng rất lớn trong du lịch văn hoá, lịch sử với một nền văn hoá cổ truyền phong phú và đa dạng của nhiều dân tộc anh em sinh sống lâu đời trên địa bàn. Mặt khác, trên địa bàn huyện có cửa khẩu Buk Prăng rất thuận lợi cho việc giao lưu quốc tế. Hệ thống khách sạn, nhà nghỉ đang từng bước được đầu tư xây dựng, nâng cấp đáp ứng tốt nhu cầu lưu trú của khách du lịch. Các điểm du lịch tiềm năng có thể đầu tư khai thác trong giai đoạn tới gồm:

- Thác Đắk G’lun: Nằm trên địa phận thôn 5 xã Quảng Tâm, ở độ cao hơn 50 m, thác Đắk G’Lun treo lơ lững trên vách đá như một dải lụa. Đắk G’Lun với cảnh non nước hữu tình, không khí mát mẻ, trong lành, lại nằm trong cánh rừng đặc dụng với nhiều loại gỗ quý hiếm. Bao bọc xung quanh thác là các loại cây có tán rộng và những bụi le rừng. Nơi đây còn có những bãi đất rộng và bằng phẳng để du khách tổ chức cắm trại, tổ chức các hoạt động vui chơi theo nhóm,…. Trong thời gian tới cần được đầu tư và xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm thu hút du khách trong tỉnh và các tỉnh lân cận như Đắk Lắk, Bình Phước, Bình Dương và Tp.Hồ Chí Minh.


3. Truyền thống văn hóa

Trên địa bàn huyện hiện có  61 bộ chiêng, 1 nghệ nhân chỉnh chiêng, 24 nghệ nhân truyền dạy đánh chiêng, 72 nghệ nhân diễn tấu cồng chiêng, 7 đội nghệ nhân đánh chiêng ở các bon đồng bào dân tộc thiểu số.

Các giá trị văn hóa phi vật thể của đồng bào cũng được khôi phục như: lễ mừng mùa, lễ phát rẫy, lễ sum họp cộng đồng, lễ cắm nêu cúng lúa, hát sử thi, dân ca M’nông. Đi kèm với các hoạt động lễ hội là trang phục truyền thống, ẩm thực, cồng chiêng, nghệ thuật diễn xướng mang đậm bản sắc văn hóa được trình diễn, giữ gìn và phát huy. Để xây dựng lớp nghệ nhân kế cận, huyện đã tổ chức được 8 lớp truyền dạy cồng chiêng, 2 lớp chế tác nhạc cụ, 2 lớp hát dân ca, 1 lớp làm cây nêu và đan lát, thu hút khoảng 600 lượt thanh niên, học sinh tham gia. Hàng năm, ngành văn hóa còn thường xuyên tổ chức các cuộc thi, hội diễn văn nghệ quần chúng, ngày hội văn hóa, thể thao các dân tộc..., tạo sân chơi lành mạnh và sự giao lưu văn hóa  giữa đồng bào các dân tộc với nhau... Bên cạnh đó, hiện 6 xã trong huyện đều thành lập được các đội văn nghệ dân gian, câu lạc bộ cồng chiêng, câu lạc bộ hát chèo. Ngoài một phần hỗ trợ của huyện thì việc sinh hoạt của hầu hết các câu lạc bộ đều dựa vào kinh phí của các thành viên đóng góp nên hoạt động rất hiệu quả, thường xuyên, thực sự là sân chơi lành mạnh của đông đảo nhân dân.